Cái tình của người Tày – Chuyến xe Nhân học đi ngược miền tổ quốc

70

“Có thể nói rằng bản chất tình yêu và hôn nhân không có gì xấu. Tình yêu và hôn nhân là chuyện thường tình của con người, nó trở nên tốt đẹp hay không tốt đẹp là hoàn toàn phụ thuộc vào người tạo dựng nó. Đức Phật không hề bác bỏ vấn đề về nam nữ yêu nhau, nhưng Ngài dạy từ lúc yêu thương đến lúc chung sống với nhau thì phải phù hợp với đạo lý làm người. Người nam và người nữ sống bên nhau phải có hạnh phúc. Trong kinh Đại Bảo Tích đức Phật đã nhận định rằng: “Nếu một người đàn ông có thể tìm được một người vợ, người phụ nữ thích hợp và hiểu biết, cả hai thực sự may mắn.”

Trích Đạo Phật với đời sống gia đình.

      Trên đây có thể nói là một đoạn trích tôi khá tâm đắc khi đọc tài liệu cho môn học có tên là Thân tộc hôn nhân và gia đình nằm trong khối môn chuyên ngành của Nhân học. Có thể mọi người sẽ thấy hơi lạ tai với môn học này tuy nhiên đối với chúng tôi-những thành viên của “gia đình” Nhân học, lại khá tâm huyết với nó. Không những học để tích lũy kiến thức chuyên ngành mà hơn thế là những bài học thiết thực và rất gần gũi chúng tôi có thể áp dụng vào đời sống. Khi đọc được bài viết trên, những dòng chữ đã đưa tôi quay ngược thời gian trở về hai năm về trước, nhắc tôi nhớ lại câu chuyện tình yêu dung dị của cặp vợ chồng già người dân tộc Tày. Trong chuyến thực tập dân tộc học – một đặc sản của nhân học – chúng tôi đã đặt chân đến bán Kem, xã Nghĩa Đô, huyện Bảo Yên, Tỉnh Lào Cai, một làng quê vùng Tây Bắc yên bình, nồng hậu.

 

 

      Gia đình ông Nguyễn Quang Sành và bà Ma Thị Đa (1) nằm tại một bản nhỏ thuộc một tỉnh vùng cao Tây Bắc. Ông Sành vốn là người Kinh quê gốc vùng Lạng Sơn, nhưng những năm tháng kháng chiến đã đưa ông đến mảnh đất này và khiến nơi đây trở thành quê hương thứ hai hay cũng chính là nơi ông xây dựng tổ ấm. Sẽ chẳng có gì đặc biệt khi tôi lại kể về một gia đình người Tày sống tại một miền quê, nhưng sẽ thật đặc biệt khi nói về tình yêu mà ông bà dành cho nhau khi đã sống vui vẻ cùng nhau đến lúc tóc bạc hơn nửa mái đầu. Ngày trước còn chiến tranh, ông Sành cũng như bao nhiêu chàng trai khác vì tình yêu tổ quốc mà lên đường nhập ngũ. Cuộc đời của một người trai trẻ bôn ba, với cái tài ăn nói được trời phú nên được nhiều người yêu mến. Bà Đa vừa bảo vừa cười và kể rằng: “Ông đi nhiều lắm mà lại được trời cho cái tài ăn nói nên đi đâu cũng có gái theo. Ngoài bà và các con ở đây thì ông còn một bà vợ và mấy người con nữa ở Bắc Hà. Cứ Tết đến là con cháu trên đấy lại về chơi.” Tôi cười và trêu bà rằng bà không ghen sao nhưng bà cười xuề xòa. Bà Đa có vẻ là người vợ “biết cương biết nhu” bà bảo cứ kệ ông thôi và cuối cùng thì ông cũng về ở với bà. Nhưng thế mà lại tài, một gia đình có tận hai bà vợ. Trong thơ Hồ Xuân Hương đã từng viết:  

“Chém cha cái kiếp lấy chồng chung

Kẻ đắp chăn bông kẻ lạnh lùng”

      Đấy cái sự oái oăm mà tác giả đã thể hiện chỉ trong hai câu thơ và đó cũng là cái sự lận đận của những người phải sông kiếp chồng chung. Ấy vậy mà với gia đình ông Sành bà Đa lại như trái ngược. Bà vợ hai mỗi dịp tết đến lại đưa các con về sum vầy cùng bố và vợ cả. Người ta thường bảo rằng người dân tộc thì “kém thông minh”, “dân trí thấp” nhưng liệu có ai dân trí thấp mà hành xử được tình nghĩa như vậy. Thời nay, báo chí đăng đàn đầy tin vợ chồng chém giết nhau, đánh nhau mà thấy sao cái tình nó rẻ mạt thế. Cũng chính vì nếp nhà yên ổn và mẫu mực nên người con trai trưởng của ông bà cũng được tín nhiệm làm người cai quản bản Kem. Về chuyện vợ cả vợ hai thì chúng tôi không suy xét bởi so với tuổi của ông bà thì chúng tôi chỉ đáng bậc con, bậc cháu. Nhưng với những gì chúng tôi thấm được qua những ngày ba cùng: cùng ăn, cùng ở, cùng làm với gia đình thì quả thực tình nghĩa của ông dành cho bà hay bà dành cho ông khiến chúng tôi cảm phục vô cùng.

 

 

      Ông Sành tuy già nhưng vẫn thường chia sẻ công việc nhà với vợ. Khi bà đan sọt thì ông chẻ tre, khi mà muối măng thì ông hái ớt. Hằng ngày, hai ông bà vẫn san sẻ công việc nhà với nhau. Ông bảo trước giờ thì đi đây đi đó nên không gần gũi với vợ con, giờ già rồi còn mỗi hai ông bà nên cũng tình cảm hơn. Có những lúc nhìn ông bà nói chuyện với nhau, tôi lại cảm nhận được một thứ tình cảm dung dị, không hoa mỹ mà rất đáng quý. Nó khởi nguồn từ tình yêu để rồi lớn dần và trở thành tình thương với mối gắn kết bền chặt và sâu đậm hơn. Với những người miền xuôi khi về đây, bắt gặp được những hình ảnh này quả thật là một điều đáng quý.

Chú thích: (1) tên nhân vật đã được thay đổi để đảm bảo đạo đức nghiên cứu.