Chuyến điền dã đầu tiên của những nhà nhân học trẻ

83

 

” Lý do gì khiến bạn bén duyên với Nhân học?”    

       Khi được hỏi những lý do về việc lựa chọn ngành học thì có đến 80% người trong lớp tôi lựa chọn theo cảm tính, lựa chọn vì nguyện vọng 2, lựa chọn vì nghe tên hay hay và hiếm lắm mới tìm ra được cái lý do thật sự xác đáng. Gần như tất cả mọi người đều bắt đầu với một tâm thế bỡ ngỡ và chỉ sau năm học đầu tiên, chúng tôi mới vỡ òa. Hóa ra “Nhân học là như thế này à” hay “Nhân học không phải như tao nghĩ”. Việc chọn ngành đôi khi là một cơ duyên, giờ đây chúng tôi mới thấm thía cái ngành của mình và càng yêu nó hơn. Nhân học không phải bói toán, cũng không phải coi số tử vi. “Giả sử chỉnh thể xã hội loài người là một miếng pho mát hấp dẫn bao gồm tất cả mọi ngành nghề và lĩnh vực thì các nhà Nhân học sẽ chọn, sẽ “ len lỏi” và lấp đầy những lỗ hổng ít người quan tâm đến để làm sao có thể nói ra được tiếng lòng của người trong cuộc đặt trong bối cảnh của họ giúp cho mọi người hiểu được”– đây chính là cách ví von dí dỏm mà chúng tôi thường dùng khi nói về ngành mình. Những tưởng ngành học thiên nhiều về tính chất hàn lâm thường khiến chúng ta cảm thấy đau đầu và khó tiếp thu nhưng không! Nhân học lại có thêm “đặc sản” khiến việc học Nhân học trở nên cao siêu nhưng cũng không kém phần thu hút và thú vị. Đó chính là những chuyến “điền dã”, những chuyến đi khám phá những mảnh đất khác nhau với những con người mà xã hội đã coi nó như “lỗ hổng của chiếc bánh phô mai”. Để rồi các nhà Nhân học đến tìm tòi và cho mọi người thấy việc xuất hiện những lỗ hổng mới khiến chiếc phô mai hoàn hảo đến như vậy.

 

 

      Chuyến điền dã ắt hẳn là điều mà mọi sinh viên của ngành Nhân học đều mong chờ. Cũng như các khóa học thường niên của khoa, đến năm hai chúng tôi bắt đầu được nếm trải mùi vị của những chuyến đi tới thực địa. Phải từ tháng 7 mới đi nhưng từ tháng 5 cả khoa đã bắt đầu rục rịch háo hức, mong chờ. Sinh viên hóng tin từ góc này đến góc nọ mong sao tìm được tí thông tin về địa bàn sắp được đặt chân đến. Và thật bất ngờ, nơi chúng tôi đến không phải là những địa điểm nổi tiếng hay đẹp đẽ mà chỉ đơn giản là một vùng quê ở xa “tít tắp” cách Hà Nội hàng trăm cây số. Có chút hụt hẫng, có chút lo sợ nhưng cũng có chút háo hức. Tất cả xen lẫn thành một thứ cảm xúc thật lạ. Khi thầy giáo vừa thông báo xong thì mỗi góc lớp lại thi thoảng chóe lên vài câu như “Nên mang theo những đồ gì đây?”, hay “Lên đấy tao nhớ người yêu quá thì làm sao?” hay thậm chí là “Lên trên này liệu có được bắt chồng không nhỉ?”…Những cuộc bàn tán với vô bàn chủ đề có vẻ như không có hồi kết. Sau khi thầy phổ biến và dặn dò xong thì chúng tôi ra về và chờ đợi ngày “ra quân”.

      Đúng 5h30 sáng, ngày 12 tháng 7 năm 2016, hai chiếc xe ô tô 25 chỗ lăn bánh chở theo một đoàn quân Nhân học gồm sinh viên và cả thầy cô lên đường. Chúng tôi háo hức, đứa nào đứa nấy tay xách nách mang nào là vali rồi đến balo kèm theo cả túi cầm tay nữa. Cảm tưởng như một cuộc di dân có tổ chức đang xảy ra vậy. Chiếc xe càng ngày càng xa Hà Nội, chúng tôi nói vui “Hà Nội chờ chị về nhé”. Có vẻ việc phải thức dậy sớm hơn bình thường nên khiến đám sinh viên chúng tôi mệt mỏi. Chúng tôi dần thiếp đi theo những nhịp rung đều đặn của chiếc xe. Mấy ngày hôm nay khá là nóng bức, chúng tôi đặt chân đến địa bàn lại đúng 12h trưa. Cái đói và cái nóng ập đến cùng lúc khiến chúng tôi càng lo sợ cho chuỗi ngày sống ở vùng đất xa lạ này. Sau khi xuống xe và tập kết dưới nhà sàn của bác trưởng bản, chúng tôi dần được dẫn đến từng hộ dân theo danh sách có sẵn để nghỉ ngơi. Khác hẳn với Hà Nội, nơi chúng tôi đến là bản Kem, xã Nghĩa Đô, huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai, một vùng quê xanh mướt những “cánh đồng thẳng cánh cò bay” với những ngôi nhà sàn san sát, xinh xinh. Quả là một khung cảnh yên bình, tôi tự ngẫm thầm chắc chắn đây sẽ là chuỗi ngày nghỉ ngơi thoải mái.

 

 

      Nhóm chúng tôi gồm 5 thành viên được phân vào ở một nhà, đó lại chính là nhà bố mẹ của bác trưởng bản. Trời nóng đến 37, 38 độ nhưng khi bước lên nhà sàn cơn nóng dường như tan biến. Người dân ở đây 80%  là người Tày nên thường xây kiểu nhà sàn bằng gỗ và tre truyền thống có tính chịu nhiệt rất tốt, mùa đông thì ấm còn mùa hè thì mát. Sau chốc lát, chúng tôi đã được trải nghiệm, đặt lưng lên những tấm tre đan mỏng của nhà sàn và đi vào giấc ngủ lúc nào không hay. Tối đến chúng tôi cùng ăn cơm với gia đình và trò chuyện cùng cả nhà. Gia đình ông Sứ bà Đi ở cùng người con trai cả và có 2 cô cháu gái cũng tầm tuổi bọn tôi. Sau 2 ngày thì chúng tôi cũng đã theo nếp nhà ở đây. Sáng tuy chúng tôi không dậy sớm được như những người trong nhà nhưng cũng bắt đầu bình minh từ lúc 6h30 một cách điều độ – điều mà chúng tôi hiếm khi làm tốt khi ở Hà Nội. Chúng tôi tập sống và sinh hoạt như người bản địa và còn cùng nhau học tiếng Tày. Việc chung sống gần gũi với đồng bào đã giúp cho chúng tôi có thể hoàn thành những đề tài nghiên cứu của mình một cách tốt hơn. Bởi lẽ, thay vì như những người xa lạ đến và hỏi thẳng và người dân thì chúng tôi lại có thời gian để làm thân và trò chuyện. Có đôi khi những lần phỏng vấn để thu thập thông tin lại chỉ như một cuộc nói chuyện của những người hàng xóm vậy. Người dân ở đây đã coi chúng tôi như con, như cháu trong bản lúc nào không hay. Thế chúng tôi mới tâm đắc “hóa ra đây đúng là đặc sản của Nhân  học”. Ngoài mục đích thu thập thông tin để hoàn thành đề tài nghiên cứu thì mỗi chúng tôi lại học được thêm những điều bổ ích ở nơi đây. Như cái cách dệt thổ cẩm của người Tày với sự khéo léo của đôi tay và sự sáng tạo của bộ não đã cho ra những tấm vải đầy sắc màu, hay cái cách đan lát rổ rá theo hình quả trám hay đan nước lên nước xuống để tạo nên những vật dụng phù hợp trong sinh hoạt gia đình. Cách mà chúng tôi tiếp nhận kiến thức nó tự nhiên và trở nên dễ dàng hơn bao giờ hết. Nó dễ thuộc hơn bất cứ dòng chữ nào trong cuốn sách dày cộp ở thư viện hay trong bài báo cáo ở đâu đó.

      Và có lẽ, để kể cho hết cái hay của những cuộc điền dã thì không xuể. Quay trở lại với chuyến đi, với mỗi chúng tôi đều cảm thấy dường như thời gian càng nhanh  hơn khi đến ngày về. Mỗi sinh viên ở mỗi gia đình đều bịn rịn và không giấu nổi nỗi buồn. Đến ngày về, gia đình ông Sứ bà Đi dậy thật sớm chuẩn bị xôi cho chúng tôi lên đường mặc dù chúng tôi rời bản vào lúc 12h. Ông bà bảo coi chúng tôi như con như cháu nên nhớ lắm. Mới mấy ngày đầu ở chưa quen chúng tôi còn réo nhau mong ngày về, ấy vậy mà đến ngày về ai nấy đều rơm rớm nước mắt. Chúng tôi không quên tặng mỗi người trong gia đình một chiếc áo để cảm ơn những ngày gia đình đã cưu mang chúng tôi, món quà tuy không giá trị nhưng chúng tôi cảm nhận được niềm hạnh phúc và yêu quý khi mọi người nhận quà. Chụp xong bức ảnh kỉ niệm, mỗi đứa ôm ông một cái, rồi quay sang ôm bà một cái, rồi lần lượt đến cô chú và hai bạn trong nhà. Bởi cái tình của người dân nơi đây quá lớn nên đã làm chúng tôi quyến luyến, chia tay trong nước mắt sụt sùi. Tôi cũng là đứa mau nước mắt nên hôm ấy khóc mãi không thôi.

      Với chuyến điền dã đầu đời tràn đầy tình yêu thương khiến chúng tôi thêm hiểu và thêm yêu cái ngành học của mình. Và hơn nữa, với mỗi mảnh đất nơi chúng tôi đi qua dấu ấn Nhân học đã có chút gì đó lưu lại đối với người dân bản địa. Với những chuyến điền dã trên khắp mọi nẻo đường, sứ mệnh để mang Nhân học đến gần mọi người hơn cũng chính điều mà chúng tôi muốn gửi gắm và mong muốn hơn cả. Để từ đó các bạn trẻ có đam mê sẽ can đảm dấn thân và để mọi người thấy được một Nhân học Việt Nam trên các diễn đàn học thuật quốc tế.