KỲ 1: Gia đình người Việt và xu hướng hạt nhân hóa gia đình trong thời kỳ công nghiệp hóa – hiện đại hóa

78
Gia đình Việt trong ngày Tết cổ truyền

Mở đầu

Từ cuối thế kỷ XIX đến nay, trải qua nhiều thăng trầm của lịch sử, xã hội Việt Nam có nhiều thay đổi lớn về mọi mặt. Trong đó, gia đình – nhân tố luôn được coi là tế bào quan trọng cấu thành nên xã hội Việt Nam – nghiễm nhiên trở thành một trong những đối tượng chịu nhiều ảnh hưởng nhất. Chính vì vậy, chủ đề biến đổi gia đình hiện không chỉ là vấn đề nóng bỏng được các giới chức trách nhà nước và dư luận quan tâm mà còn được các học giả nghiên cứu khoa học xã hội đào sâu phân tích. Bài viết này muốn đề cập tới một trong những biến đổi rõ nét nhất của gia đình người Việt: đó chính là xu hướng hạt nhân hóa gia đình, đặc biệt trong thời kỳ công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước.

 

  1. Cái nhìn tổng quát về gia đình Việt trước thời kỳ công nghiệp hóa – hiện đại hóa
    • Quan niệm “gia đình” trong tâm thức người Việt

Gia đình là khái niệm có nội dung phức tạp, đa dạng và có tính lịch sử (Phan Đại Doãn, 1994). Có thể thấy rằng gia đình là một trong những hình thức tổ chức cơ bản trong đời sống xã hội của con người, được hình thành, tồn tại và phát triển trên cơ sở của quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống, quan hệ nuôi dưỡng giáo dục… giữa các thành viên. Vậy, gia đình trong quan niệm của người Việt là gì?

Trong bài viết của nhà nghiên cứu người Pháp Leopold Cadiere năm 1958 đã chỉ ra rằng xã hội người Việt có 2 từ để chỉ gia đình theo nghĩa hẹp và nghĩa rộng (Leopold Cadiere, 1958). Ông định nghĩa rằng Nhà hay Gia là một từ dùng để chỉ nhà cửa và cả những người cư trú dưới một mái nhà bao gồm cha mẹ và con cái, nói cách khác là gia đình theo nghĩa hẹp. Trong cuốn Văn Minh Việt Nam, Nguyễn Văn Huyên cũng dành hẳn một chương để phân tích về Nhà của người Việt, nhưng không phải là nhà cửa như trong công trình nghiên cứu địa lý nhân văn của Pierre Gourou, mà là theo nghĩa “gia đình”. Ông cũng có định nghĩa tương tự Gia hay Nhà gồm những người gần gũi thân thuộc sống cùng một nhà: chồng, vợ và con cái. Tiếp nối luận điểm của mình, Leopold Cadiere nhận ra rằng với người Việt còn tồn tại quan niệm gia đình theo nghĩa rộng nữa đó là Họ hay Tộc, nhằm chỉ sự quần tụ của những người xuất thân cùng một gốc, cùng chung tổ tiên (Leopold Cadiere, 1958; Nguyễn Văn Huyên, 2016). Xuất phát từ những cách định nghĩa như vậy, có thể thấy gia đình và dòng họ luôn gắn liền với nhau, chiếm giữ vị trí quan trọng và là cơ sở của xã hội người Việt.

Tuy nhiên, đối với người Việt, gia đình không chỉ có các cá nhân cùng sống chung mà còn bao gồm các mối quan hệ, các thiết chế xã hội dưới một mái nhà. Những đặc điểm này sẽ được trình bày ở các phần tiếp theo của bài viết.

  • Vai trò của tôn giáo, tín ngưỡng với gia đình Việt

Gia đình đối với người Việt không chỉ bao gồm kẻ sống mà còn cả người đã chết và gia đình hay dòng họ trở thành cả một ngôi đền (Leopold Cadiere, 1958). Leopold Cadiere lập luận rằng Tổ Tiên được ví như một thế lực siêu nhiên có quyền lực trừng phạt hoặc ban phúc cho con cháu trong gia đình. Các mối liên hệ trong gia đình giữa người còn sống và Tổ Tiên của mình thông qua các hành vi tôn giáo bỗng được thần thánh hóa và trở nên vững chắc, trường tồn hơn bao giờ hết. Thực hành thờ cúng Tổ Tiên đã ăn sâu bám rễ vào hành vi ứng xử hàng ngày của các thành viên trong gia đình và với họ, Tổ Tiên và quyền lực siêu nhiên lúc nào cũng hiện diện trong nhà như một lẽ tất nhiên (Nguyễn Văn Chính, 2010). Rõ ràng, cốt lõi của thực hành tôn giáo này xuất phát từ niềm tin vào mối liên hệ mật thiết giữa các thành viên đang sống và Ông Bà đã khuất của mình. Ở Việt Nam, mọi gia đình đều thờ cúng Tổ Tiên và có các thực hành lễ bái, dâng cúng hay cầu khấn để bày tỏ niềm kính sợ và lòng hiếu thảo. Rồi từ đó, mở rộng lên cả dòng họ, mỗi họ thường có một nhà thờ Tổ và thực hiện các nghi lễ cũng giỗ, thờ phụng quanh năm. Nó trở thành yếu tố vững chắc nhất gắn bó và tạo thành sự cố kết giữa các thành viên trong gia đình, dòng họ với nhau. Thậm chí, nó còn mạnh mẽ đến nỗi trở thành yếu tố chi phối và kiểm soát các hành vi của mỗi cá nhân trong gia đình, đặc biệt là các vấn đề về luân lí đạo đức.

Không chỉ ở trong cách thực hành Thờ cúng Tổ Tiên, sự ảnh hưởng của tôn giáo, tín ngưỡng còn thể hiện ở các khía cạnh khác của gia đình như hôn nhân. Tưởng chừng như chẳng có mối liên hệ nào giữa hai điều này nhưng tuy nhiên nếu soi xét kĩ vào các quy trình của hôn nhân thì ta sẽ có một cách nhìn khác. Leopold Cadiere đã xuất sắc trong việc nhìn nhận ra vai trò của tôn giáo trong sự hình thành một gia đình thông qua các nghi lễ cưới hỏi của người Việt. Quả vậy, hôn nhân là cơ sở chủ yếu tạo nên một gia đình với mục đích là lưu truyền gia đình (Nguyễn Văn Huyên, 2016). Trước khi làm lễ ăn hỏi (vấn danh) và lễ cưới (nghênh hôn) thì thường nhà trai và nhà gái sẽ phải có lễ dạm vợ (chạm mặt) trước. Hai gia đình phải trao đổi bát tự (ngày tháng năm sinh) cho nhau và tiến hành bói tử vi để xem xung hay khắc rồi mới quyết định có thể tiếp tục thắt chặt mối quan hệ hay thoái hôn. Ở hai lễ tiếp theo, Cadiere đã khẳng định rằng có sự can thiệp của tôn giáo, tín ngưỡng vào các nghi lễ ở 2 khía cạnh: thờ cúng Tổ tiên và ma thuật. Đôi vợ chồng sẽ tiến hành các lễ nghi để cầu xin sự chấp thuận, chúc phúc với các Tổ Tiên và dưới sự chứng giám của họ, ngoài ra các yếu tố ma thuật như giờ hoàng đạo, bát tự cũng xuất hiện trong hôn nhân. Như vậy, hôn nhân đã trở thành một mắt xích tạo thành các gia đình và lưu truyền nó từ thế hệ này sang thế hệ khác và có vị trí vô cùng thiêng liêng với gia đình Việt.

Cuối cùng, một đặc điểm dễ nhận thấy đó là sức ảnh hưởng nặng nề của Nho giáo hay đạo Khổng lên các mối quan hệ trong gia đình, đặc biệt là quan niệm về chữ “hiếu”. Chữ “hiếu” được xem như nền tàng của đạo đức con người cũng như mối quan hệ giữa cha mẹ và con cái. Nó quy định bổn phận tôn kính và chăm sóc cha mẹ, ngoài ra cũng nhấn mạnh bổn phận phải vâng lời và hiếu thảo của con cái với cha mẹ và bề trên (Nguyễn Văn Chính, 1999). Chính điều này đã góp phần quy định một loạt các thiết chế trong một gia đình như thực hành thờ cúng Tổ Tiên nhằm thực hiện bổn phận của con cháu, hay việc “cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy” trong các sự kiện quan trọng của đời người như kết hôn, học tập, sinh sống. Ngày nay, dấu ấn của đạo Khổng đã phần nào phai mờ trong các gia đình Việt, tuy nhiên vẫn ảnh hưởng tới việc quy định các ứng xử của con cái với cha mẹ và ngược lại.

  • Gia đình Việt với chế độ phụ quyền gia trưởng

Gia đình Việt thuộc loại hình gia trưởng, nghĩa là tất cả uy quyền trong ngôi nhà đều tập trung trong tay người đứng đầu, mà thường là người cha nắm giữ. Tương tự, đối với dòng họ, quyền lực tập trung vào tay người trưởng họ. Trong mô tả của mình, Nguyễn Văn Huyên đã tái hiện lại chế độ gia trưởng từ thuở sơ khai với quyền lực tuyệt đối của người cha. Họ có quyền quyết định số phận của những thành viên còn lại trong gia đình, thậm chí là đem bán họ. Tuy nhiên, từ những năm Gia Long luật pháp đã hạn chế bớt quyền gia trưởng (Nguyễn Văn Huyên, 2016). Song song cùng với quyền lực của mình, người gia trưởng cũng giữ phần trách nhiệm quan trọng trong việc duy trì nói giống và quản lí hương hỏa thờ cúng Tổ Tiên. Chế độ phụ quyền gia trưởng đã tồn tại trong suốt một thời gian dài cùng với sự du nhập của đạo Khổng, đề cao vị thế và vai trò của người đàn ông trong gia đình và cả xã hội. Người chủ gia đình giữ quyền gia trưởng nhưng chỉ có thể là người nam, điều này làm cho sự trọng nam khinh nữ ngày càng sâu sắc hơn. Tuy nhiên, hiện nay vai trò của người gia trưởng trong một gia đình đã có thay đổi cùng với biến chuyển của xã hội, chưa hẳn họ đã nắm giữ tất cả uy quyền trong nhà mà dần dần có sự cân bằng với người vợ. Nhưng nhìn chung, dấu ấn của chế độ phụ quyền gia trường vẫn còn đậm nét, nhất là ở các vùng nông thôn.

  • Các kiểu gia đình Việt

Xét về tính chất, ở thời kỳ trước ở Việt Nam chỉ có các gia đình “truyền thống” theo chế độ phụ quyền gia trưởng và có thể đa thê. Nhưng ngày nay, đã xuất hiện các kiểu gia đình biến thái đi như gia đình độc thân, gia đình đồng tính, thậm chí là cả gia đình trao đổi vợ chồng. Những kiểu gia đình này cho đến những năm 90 vẫn còn khá mới mẻ và chưa phổ biến ở nước ta nhưng hiện nay số lượng của nó ngày càng tăng lên.

Xét theo quy mô, có thể phân loại gia đình Việt theo 2 loại đó là gia đình nhiều thế hệ và gia đình hạt nhân (2 thế hệ). Trước cách mạng tháng 8/1945, đa phân các gia đình Việt là gia đình nhiều thế hệ cùng chung sống (Đào Hùng, 2006). Từ 3 thế hệ trở lên gọi là tam đại đồng đường, 4 thế hệ gọi là tứ đại đồng đường, càng nhiều thế hệ thì càng được coi là có phúc. Những đại gia đình như vậy thường là tầng lớp thượng lưu, còn những tầng lớp lao động nghèo thì duy trì ở loại gia đình “vừa” (Phan Đại Doãn, 1994). Ngày nay, xu hướng hạt nhân hóa gia đình ngày càng rõ rệt, những gia đình nhiều thế hệ giảm dần và gia đình nhỏ thế chỗ. Đây cũng là chủ đề chính mà bài viết sẽ đề làm rõ hơn ở các phần tiếp theo.

Nguyễn Thanh Lan

(Còn tiếp)