Luận bàn về làng Việt: Còn hay đã mất

112

“Nước là họp các làng mà thành. Từ làng đến nước, dạy dân nên tục, vương chính lấy làng làm trước” (trích lời vua Gia Long). Người Việt Nam sinh ra từ làng, đô thị Việt Nam cũng từ làng mà hình thành và phát triển. Khách quan mà nói, văn hóa Việt Nam là văn hóa của làng xã, của cộng đồng; có hay không chỉ là chữ “làng” được ẩn hiện dưới các danh từ khác mà thôi. Thực tế cho thấy, không ít người tự chối bỏ xuất thân “làng xã” của mình và cũng chẳng ít người cho mình một thứ quyền năng “gắn mác” “làng” với những thứ kém phát triển, quê mùa, nghèo nàn hay lạc hậu,…

Vốn được coi là một nét đặc trưng của xã hội Việt Nam, liệu làng có đáng phải chịu những định kiến như vậy, đâu là lí do, nếu là vậy thì làng nên tồn tại theo cách như thế nào? Ở đô thị còn làng hay không? Người ta làm gì để giữ cho mình cái hồn của một ngôi làng Việt truyền thống?

Chúng tôi muốn nghe quan điểm của bạn và đây là một trong những quan điểm của chúng tôi mở đầu cho diễn đàn Nhân học – Nghiên cứu và trao đổi.

Làng Việt Nam là “một thực thể xã hội với cấu trúc động” (Philippe Papin, Oliver Tessier, 2002) bao gồm nhiều thành tố quan trọng như kinh tế, tín ngưỡng, văn hóa, tự nhiên,…được hình thành trong quá trình “định cư và cộng cư của người Việt trồng trọt” (Nguyễn Từ Chi, 1996) từ thời Hùng Vương. Qua một khoảng thời gian dài của lịch sử, làng Việt đã được định hình một cách khá rõ nét với những đặc điểm riêng, ảnh hưởng sâu sắc đến mọi mặt của đời sống nông thôn cổ truyền. Nghiên cứu về làng Việt đã trở thành mối quan tâm của nhiều học giả như Phan Đại Doãn, Nguyễn Từ Chi, Bùi Xuân Đính, Nguyễn Văn Huyên,… với các công trình nghiên cứu rất có giá trị. Qua nguồn tài liệu thu thập được về vấn đề làng Việt cổ truyền được các tác giả thực hiện trong nhiều giai đoạn khác nhau với các cách tiếp cận liên ngành và đa đạng về trường hợp, phần I của bài viết tập trung trả lời một phần câu hỏi: “Đâu là những đặc điểm của làng Việt truyền thống?”
Lần lượt xem xét các yếu tố cấu thành nên làng Việt, đặc điểm nổi bật và có ý nghĩa quyết định trong đời sống nông dân là nền kinh tế làng xã với bản chất là kinh tế tiểu nông, mang nặng tính tự cung tự cấp, tích lũy thấp và tiết kiệm trong tiêu dùng. Đất đai canh tác chỉ là những thửa ruộng, mảnh nương nhỏ và manh mún cộng với việc trình độ sản xuất còn nhiều hạn chế như công cụ lao động thô sơ, cơ cấu cây trồng theo nông lịch không có sự thay đổi, không áp dụng các biện pháp phát triển kinh tế,…khiến sản lượng nông nghiệp thấp chỉ đủ đáp ứng trong phạm vi gia đình. Tất yếu nảy sinh tư tưởng “tích cốc phòng cơ” và tập quán tiết kiệm làm kìm hãm nhu cầu tự phát triển của nông dân. Kinh tế sản xuất càng trở nên bó hẹp khi hình thành trên cơ sở của chế độ sở hữu chung về đất đai – công điền công thổ. Toàn bộ sản phẩm, hoa lợi thu được đều là sản phẩm chung, do làng quản lý và phân chia cho tất cả các thành viên. Mâu thuẫn thực tế xảy ra khi ruộng công là “tài sản công cộng của làng”, “do tập thể làng khai phá” (Đỗ Long, Trần Hiệp, 1993) nhưng lại nằm trong tay những kẻ cầm quyền, là nơi họ lợi dụng nhằm bòn rút, chiếm đoạt. Một đặc điểm dễ nhận thấy trong kinh tế nông thôn Việt Nam là kết cấu kinh tế đa nguyên: nông nghiệp kết hợp thủ công nghiệp, thương nghiệp,… Tác giả Tô Duy Hợp từng phân chia mô hình kinh tế nông thôn truyền thống thể hiện qua 2 khung mẫu: “khung mẫu hỗn hợp trọng nông” và “khung mẫu hỗn hợp phi nông”, đồng quan điểm với các nhà nghiên cứu trước đây rằng không có kết cấu nông nghiệp hay thủ công nghiệp tồn tại trong một làng mà luôn có sự đan xen giữa nhiều thành phần kinh tế (Phan Đại Doãn, 2011; Lưu Thị Tuyết Vân, 1994). Trong cấu trúc kinh tế ấy, nông nghiệp được coi là “nghề gốc”, bao trùm và chi phối đến các hoạt động kinh tế khác. Các hoạt động giao thương, buôn bán, tiểu thủ công nghiệp xuất hiện từ rất sớm song dưới sự kìm hãm của chế độ phong kiến thì hầu như không có bước tiến. Sự phục hồi và chấn hưng chỉ thực sự diễn ra từ thế kỉ XI trở đi, chế độ tập quyền nhà nước được hình thành đi kèm với việc xuất hiện nhiều làng xã theo mô hình kinh tế phi nông hoàn toàn. Tuy nhiên, có thể chắc chắn một điều rằng, dù cơ cấu kinh tế có nhiều thay đổi nhưng tầm quan trọng và mối quan hệ của con người với đất đai thì không có sự biến chuyển. Người nông dân sống phụ thuộc vào thiên nhiên, sinh tồn và khai thác từ chính mảnh đất quê hương. Mối quan hệ mật thiết ấy kết hợp với căn tính tiểu nông đã giải thích cho câu chuyện người nông dân Việt Nam khi đã làm ăn khá giả vẫn lựa chọn đầu tư vào ruộng đất thay vì các hình thức kinh tế tư bản khác.
Trong bài viết này, tôi lựa chọn đề cập tới làng Việt truyền thống với tư cách là một cộng đồng kinh tế trước khi đề cập nó với tư cách là một cộng đồng văn hóa – xã hội. Không phủ nhận vị trí của văn hóa trong đời sống tuy nhiên dù ở thời đại nào, kinh tế cũng giữ vai trò cốt cán trong việc quyết định chất lượng cuộc sống con người. Xét trên các đặc điểm về văn hóa – xã hội của làng Việt truyền thống, tôi chủ trương đề cập tới các nội hàm của văn hóa bao gồm: tâm lý nông dân, thiết chế xã hội, tâm linh tín ngưỡng,….chứ không tách biệt hoàn toàn các yếu tố trên. Ở làng Việt Nam, “con người không tồn tại với tư cách cá nhân độc lập, mà phải luôn luôn là thành viên trong một cộng đồng nhất định của họ, của phường, của hội, của làng…” .

Về tổ chức xã hội: Làng Việt tồn tại nhiều lớp bao gồm: dòng họ, gia đình, phe giáp, xóm ngõ hay có thể chia thành các lớp dân cư phân theo hoạt động nghề nghiệp như: sĩ, nông, công, thương được vận hành theo những cơ chế riêng. Nếu như gia đình và dòng họ được xây dựng trên mối quan hệ huyết thống chặt chẽ và lấy đó làm cơ sở để quản lý các thành viên thì các tổ chức phi quan phương (phường hội) lại lấy quan hệ tương trợ để duy trì hoạt động. Kết cấu đa dạng và chặt chẽ của làng đã thúc đẩy và định hướng hoạt động của cá nhân và tập thể, là nền tảng của sức mạnh dân tộc. Nhận thấy, khi nghiên cứu bất kì một tổ chức xã hội nào trong làng, nhà nghiên cứu phải nhìn nhận nó dưới rất nhiều các chiều cạnh khác nhau. Đơn cử, giáp là “một hình thức tổ chức dành riêng cho nam giới”[1] – một môi trường xã hội đặc biệt. Khi soi chiếu dưới góc độ giới tính, giáp mang tới cho những người đàn ông trong làng địa vị, đất đai nhưng cũng ràng buộc họ vào trách nhiệm đóng thuế, chịu đinh. Dưới góc độ huyết thống, giáp lại làm nảy sinh những mối quan hệ phức tạp do sự sắp xếp về vai vế, tuổi tác. Dưới góc độ chính trị, giáp có cầu nối đặc biệt với bộ máy quản lý làng xã. Tương tự với các tổ chức xã hội khác, chúng đều được liên kết bởi những sợi dây vô hình, chằng chịt và phức tạp nhưng đó lại chính là đặc điểm nổi bật trong đời sống xã hội nông thôn. Làng Việt thường gắn liền với hình ảnh lũy tre xanh là biểu tượng cho tính chất “nửa kín, (từ dùng của GS. Trần Quốc Vượng) hay tính “tự trị” (từ dùng của GS. Trần Ngọc Thêm). Nhiều học giả đã đưa ra quan điểm của mình về tính “tự trị” của làng xã song về cơ bản, có thể tóm gọn trên hai biểu hiện sau: qua hương ước và qua tập quán, phong tục. Bắt nguồn từ chế độ quân điền, làng có một nguồn tài sản thuộc sở hữu chung (công điền, công thổ) cùng với việc tự thiết lập một bộ máy chính quyền dưới sự quản lý lỏng lẻo của nhà nước đã tạo điều kiện hình thành nên tính “tự trị”. Hương ước ra đời góp phần củng cố thêm điều này. Đó là “sản phẩm văn hóa của làng xã”, “tồn tại song song với luật pháp của Nhà nước phong kiến trung ương và được thừa nhận mặc nhiên như những văn bản pháp lý” [2]. Bao gồm những điều khoản quy định về kinh tế, chính trị, văn hóa, giáo dục, đạo đức, phương thức ứng xử, hương ước có tác dụng trật tự hóa, ổn định hóa mọi mặt đời sống, ràng buộc các thành viên trong cộng đồng về quyền và trách nhiệm. Tuy nhiên với các tính chất đặc thù, hương ước cũng là rào cản giữa nhà nước và nhân dân – “phép vua thua lệ làng”. Nhiều ý kiến cho rằng, làng là một đơn vị khép kín, bản vị nhưng nhiều hoạt động đã chứng minh cho tính mở của làng như sự liên kết các làng trong hoạt động thủy lợi, trong giao thương buôn bán, lễ hội hay các hoạt động tôn giáo tín ngưỡng quy mô lớn,…
Về văn hóa: Văn hóa làng Việt phản ánh đặc trưng của nền văn minh lúa nước mà trong đó người nông dân là chủ thể văn hóa với bản chất dung hòa. Vì vậy, làng được xem như một không gian văn hóa có sự đan xen bởi nhiều yếu tố mà thể hiện rõ ràng nhất là qua tôn giáo, tín ngưỡng. Cơ tầng chính của văn hóa lúa nước bản địa là các nghi lễ gắn liền với mùa vụ như: lễ hạ điền, lễ thượng điền, lễ cơm mới,…và cao hơn, đậm nét hơn chính là tục thờ thành hoàng làng gắn liền với hình ảnh cây đa – bến nước – sân đình. Thành Hoàng thường là những người có công, là vị thần bảo trợ cho cả cộng đồng. Mỗi làng đều có riêng một vị thần của mình, tôn kính và thờ phụng cũng như viêc mỗi làng đều có sở hữu kinh tế riêng, văn hóa phong tục riêng, lịch sử riêng. Hành vi này mang màu sắc “duy lý” mà theo GS. Phan Đại Doãn đã từng goi là dạng “tín ngưỡng thế tục”[3]. Đình làng là nơi diễn ra các hoạt động sinh hoạt văn hóa bên cạnh mục đích chính là nơi thờ Thành Hoàng. Đây là một trong các yếu tố tạo nên tính cố kết cộng đồng cũng như là các di sản về kiến trúc làng quê truyền thống. Bên cạnh đó, văn hóa làng còn có sự đan xen của Phật giáo (chùa chiền), Nho giáo (văn chỉ thờ những người đỗ đạt), thờ cúng tổ tiên (tộc phả, tộc ước). Với những đặc thù như trên, tất yếu nảy sinh tâm lý nông dân. Nhìn chung, tâm lý nông dân là khía cạnh ít được các học giả đề cập tới song với tính chất liên ngành, tìm hiểu về tâm lý nông dân sẽ giúp ta có cái nhìn khách quan, đa chiều về nông thôn Việt Nam. Theo đó, có thể phân tích vấn đề này qua các biểu hiện sau: (1) Duy tình; (2) Cố kết cộng đồng; (3) Tôn ti trật tự. Chính vì sự ràng buộc giữa cá nhân với làng, cá nhân với cá nhân mà người nông dân luôn có xu hướng thích nghi và hòa hợp trên cơ sở tình cảm. Điều này một phần được thể hiện qua các điều khoản xử phạt trong hương ước và trong thực tế khi họ luôn “kính trên nhường dưới”, luôn nghĩ tới tập thể. Hoạt động nông nghiệp tồn tại và trải dài theo lịch sử của làng xã cùng với việc phải kết hợp để chống chọi lại với thiên nhiên khiến người dân phải có trách nhiệm cưu mang, hỗ trợ nhau và dần hình thành nên tính cố kết cộng đồng bền vững. Cuối cùng là tính “tôn ti trật tự” với những ảnh hưởng nhất định từ Nho giáo khiến tâm lý người dân mang nặng tính giáo điều, tư tưởng “trọng nam khinh nữ”, gia trưởng, sĩ diện tác động tiêu cực đến hình ảnh và đời sống nông thôn.

        Có nhiều cách để tiếp cận một nền văn hóa dân tộc, tuy nhiên với một mảng đề tài được coi là “mảnh đất được nhiều người khai phá” như làng xã truyền thống Việt Nam thì chúng ta nên nhìn nhận nó dưới lăng kính tổng quan, tiếp thu và so sánh. Khác với làng xã ở Thái Lan (kết cấu lỏng), ở Trung Quốc (tính cộng đồng không mạnh mẽ) hay  Nhật Bản (đô thị hóa nhanh) thì làng Việt Nam tựu chung có thể kết luận ở một vài đặc điểm sau:

  1.   Nền văn hóa mang đậm bản sắc của nền văn minh lúa nước
  2.   Nền văn hóa đa nguyên, hướng nội
  3.   Nền văn hóa luôn vận động, có sự tích lũy và kế thừa

Trải qua mấy nghìn năm biến động, hình ảnh làng quê Việt Nam cổ truyền được định hình một cách khá rõ nét với các đặc điểm vừa nêu trên. Cho đến cách mạng tháng 8/1945 (CMT8), đất nước ta chuyển từ chế độ Quân chủ sang chế độ Dân chủ cộng hòa, về nguyên tắc là sự phủ định hoàn toàn bộ máy chính quyền cũ gây ra một thay đổi lớn trong cơ tầng làng xã. Tuy nhiên, trong khi chính quyền cách mạng còn non trẻ, đất nước còn lạc hậu thì cùng lúc Việt Nam ở trong cảnh “một cổ hai tròng”, liên tiếp đối đầu với quân xâm lược Nhật, Pháp, Tưởng và bọn phản động, tay sai trong nước. Nhận xét về các đặc điểm của làng xã sau CMT8, GS. Phan Đại Doãn đã phân chia thành 3 giai đoạn: (1) Trước năm 1959; (2) Từ 1960-1988; (3) Sau 1988 (khoán 10).[4] Sự phân chia này là có cơ sở bởi dựa trên các dấu mốc quan trọng, có ý nghĩa quyết định về kinh tế sản xuất khiến bộ mặt làng xã ít nhiều biến chuyển. Trước năm 1945, xã hội Việt Nam chủ yếu là tầng lớp nông dân lấy hoạt động nông nghiệp làm nòng cốt với cơ cấu là các tổ chức khác nhau từ hộ gia đình, xóm ngõ, phường hội,…có kết cấu bền vững, là cơ sở quản lý của chính quyền. Có thể tóm tắt đặc điểm của làng xã qua các giai đoạn sau CMT8/1945 như sau:

Từ 1945 – 1959: Tập trung toàn bộ vào nhiệm vụ chiến lược: bảo vệ và giải phóng dân tộc, duy trì nền kinh tế tiểu nông. Nhiều thôn, làng cũ được sát nhập lại thành những làng xã tương đối lớn dựa trên sự gần gũi về văn hóa, nguồn gốc, kinh tế. Cơ cấu làng xã cũ bị giải thể, tính tự trị của làng xã bị suy giảm, hương ước không còn có giá trị như trước.

Từ 1960 – 1988: Nhà nước tiến hành “hợp tác hóa”, chế độ bao cấp, sản xuất theo kế hoạch từ trên xuống khiến chức năng của hộ gia đình bị suy yếu, kinh tế hàng hóa bị thu hẹp. Tập trung vào quản lý hành chính, người dân ít quan tâm đến kinh tế. Cuộc sống tinh thần và vật chất của người nông dân chìm sâu trong cảnh nghèo nàn, đơn điệu.

Từ 1988 – nay: Nhà nước thực hiện chính sách khoán 10 – trả lại ruộng đất cho nông dân và để nông dân tự quyết định trong sản xuất. Từ tư thế bị động, phụ thuộc vào kinh tế chung, hộ gia đình và cá nhân trở nên chủ động, là các chủ thể của xã hội, hướng tới nền kinh tế thị trường. Cùng với đó là những đổi mới trong thiết chế làng xã cổ truyền – sự xuất hiện của các tổ chức xã hội về giáo dục, y tế,…hay các câu lạc bộ, hội họp,…Một số vùng quê vốn yên bình, êm ả nay trở nên nhộn nhịp do tác động của quá trình đô thị hóa. Từ một nền kinh tế trọng nông, người nông dân đẩy mạnh hơn các hoạt động giao thương, sản xuất tiểu thủ công nghiệp bắt kịp xu thế. Thay vì bó hẹp mình trong không gian chật kín của làng, họ có xu hướng di cư tự do để tìm kế sinh nhai với mong muốn một cuộc sống tốt đẹp hơn. Làng với tư cách là một cộng đồng có phong tục, văn hóa, tín ngưỡng riêng,… đã dần dần khẳng định lại vai trò của mình.

        Có thể thấy rằng, khi kinh tế thị trường thay đổi, nền văn hóa và cơ cấu làng xã cũng tất yếu thay đổi theo, có những sự sàng lọc và cũng có sự lợi dụng các giá trị văn hóa. Tuy nhiên, một vấn đề mà tôi cho rằng cần đề cập tới nhất khi bàn luận về vấn đề nông dân và nông thôn Việt Nam sau CMT8, đó là mối quan hệ giữa con người và đất đai. Đất đai là điều kiện vật chất mà mọi sinh hoạt và sản xuất đều cần tới, là khởi điểm tiếp xúc và sử dụng tự nhiên của nhân loại. Đối với người nông dân, họ coi đất đai như chính “máu thịt” của mình. Sau khi CMT8 thành công, chính phủ Việt Nam đã ban hành sắc lệnh giảm tô, tịch thu ruộng đất của thực dân Pháp, Việt gian phản động để chia cho dân cày nghèo. Cuộc cách mạng ruộng đất (CMRĐ) trên thực tế diễn ra từ năm 1953 ở những vùng tự do Thanh – Nghệ – Tĩnh, chiến khu Việt Bắc và diễn ra đều khắp ở các vùng nông thôn Bắc Việt Nam vào những năm 1955 – 1956. Dưới góc nhìn Nhân học, ta cần đánh giá công bằng cả hai mặt tốt – xấu của sự kiện này. Trước hết, sự phân chia lại ruộng đất này, về mặt lý thuyết, có tác dụng giải phóng sức lao động, đảm bảo công bằng xã hội, kích thích năng lực làm giàu của nông dân. Song với chính sách của CCRĐ, nếu như trước cách mạng, địa chủ là người giàu hơn cố nông gấp nhiều lần thì bỗng chốc, họ trở thành tầng lớp dưới đáy của xã hội nông thôn, bị xa lánh, ngược đãi và khinh rẻ. Nhìn nhận một cách khách quan, điều này đã đi ngược lại với tính chất nhân đạo của CMRĐ do những người khởi xướng đề ra. Đất đai lần lượt được trao về cho nhân dân rồi lại bị lấy mất (chế độ hợp tác xã) rồi lại được trả về cho nông dân tự chủ. Cùng với nhiều chính sách thu hồi đất của nhà nước, nông dân lâm vào thế bị động, chán ruộng, bần cùng hóa, từ bỏ quê hương khi thứ tài sản quan trọng nhất đối với họ là ruộng đất cũng trở nên vô nghĩa. Người nông dân ngàn đời nay gắn liền với nông nghiệp, với ruộng đồng, cày cuốc, “nếu chúng ta giải quyết vấn đề đất đai không tốt sẽ tạo ra đối kháng giữa chính quyền và nhân dân”[5]

        Từ một phác họa về các đặc điểm của làng Việt truyền thống, dù chưa thực sự đầy đủ nhưng có thể cho chúng ta một cái nhìn bao quát về các giá trị di sản cần được bảo tồn và phát huy. Dưới sức ép của đô thị hóa, hiện đại hóa, bộ mặt của làng quê bị biến dạng một cách nhanh chóng đi kèm với những lỗ hổng vì sự tăng trưởng không đồng đều giữa kinh tế và trình độ, nhận thức, chính sách,…của người nông dân. Những tác động đó đặt ra trước mắt các nhà nghiên cứu các vấn đề cần được quan tâm hơn nữa như: môi trường, việc làm, bảo tồn các giá trị văn hóa,….

Tài liệu tham khảo

  1.             Bùi Xuân Đính, Lệ làng phép nước, Hà Nội: NXB Pháp lý, 1985
  2.             Đỗ Long – Trần Hiệp, Tâm lý cộng đồng làng và di sản, Hà Nội, NXB Khoa học xã hội, 1993
  3.             Lưu Thị Tuyết Vân, Quan hệ giữa thủ công nghiệp và nông nghiệp trong các làng nghề ở miền Bắc Việt Nam, Tạp chí nghiên cứu lịch sử, số 1-1994
  4.             Nguyễn Hồi Loan, Một số đặc điểm tâm lý của người nông dân Việt Nam ảnh hưởng tiêu cực đến quá trình hội nhập quốc tế, Tạp chí Tâm lí học, số 7-2005
  5.             Nguyễn Từ Chi, Góp phần nghiên cứu văn hóa và tộc người, Hà Nội: NXB Văn hóa thông tin, 1996
  6.             Phan Đại Doãn, Làng xã Việt Nam – một số vấn đề kinh tế – văn hóa – xã hội, Hà Nội: NXB Chính trị Quốc gia, 2001
  7.             Philippe Papin, Oliver Tessier (chủ biên), Làng ở vùng châu thổ sông Hồng: vấn đề còn bỏ ngỏ, Hà Nội: NXB Lao động – Xã hội, 2002
  8.             Tô Duy Hợp, Một số đặc điểm cơ bản của truyền thống nông thôn, báo Văn hóa Nghệ An, ngày 28/01/2015
  9.             Trần Từ, Cơ cấu tổ chức của làng Việt cổ truyền ở Bắc Bộ, Hà Nội: NXB Khoa học xã hội, 1984

 

[1] Trần Từ, Cơ cấu tổ chức của làng Việt cổ truyền ở Bắc Bộ, Hà Nội: NXB Khoa học xã hội, 1984

[2] Bùi Xuân Đính, Lệ làng phép nước, Hà Nội: NXB Pháp lý, 1985

[3] Phan Đại Doãn, Làng xã Việt Nam – một số vấn đề kinh tế – văn hóa – xã hội, Hà Nội: NXB Chính trị Quốc gia, 2001

[4] Phan Đại Doãn, Làng xã Việt Nam – một số vấn đề kinh tế – văn hóa – xã hội, Hà Nội: NXB Chính trị Quốc gia, 2001

[5] Trích lời nguyên phó thủ tướng, bộ trưởng bộ Nông nghiệp Nguyễn Ngọc Trìu

Trang Bùi