Người Mông tại Việt Nam và câu chuyện về bảo tồn “bộ gen” văn hóa

79

Văn hóa là biến đổi, không biến đổi là văn hóa chết. Qua thời gian, con người dần nhận ra rằng: Văn hóa là một thành tố luôn vận động, có thể từ nhanh đến rất nhanh hoặc chậm tới rất chậm tùy theo sự tác động của các yếu tố ngoại vi. Nhưng tựu chụng lại, bằng cách này hay cách khác, văn hóa không giữ nguyên trạng thái của nó ban đầu mà biến đổi hình hài để thích nghi với bối cảnh chung. Cố GS. Nguyễn Hải Phong trong một bài viết của mình đã cho rằng: “Văn hóa là bộ gen xã hội của mọi dân tộc”[1]. Bài viết này xin được trình bày những quan điểm và phân tích khoa học về nhận định trên đồng thời, đặt nó trong trường hợp cộng đồng người Hmông tại Việt Nam để hiểu sâu hơn về “bộ gen văn hóa” cùng cách để bảo tồn nó trong xã hội toàn cầu hóa, hiện đại hóa hiện nay.  

1. Về quan điểm “Bộ gen văn hóa”

        Năm 1953, J.Weston và F.Crick đã phát hiện ra vòng xoắn AND – phân tử mang thông tin di truyền chứa đựng các gen điều khiển mọi hoạt động của tế bào. Khái niệm “gen” xuất hiện đầu tiên và chủ yếu trong lĩnh vực sinh học với nội hàm được hiểu là một tập hợp lệnh bao gồm nhiều bộ mã, quy định bản sắc cá thể và phương thức duy trì, phát triển sự sống. Dựa trên định nghĩa này, ẩn dụ của “gen” bắt đầu được sử dụng một cách đa dạng hơn trong các lĩnh vực khác như kinh doanh và ở đây, là văn hóa. Theo đó, gen của một doanh nghiệp phải thỏa mãn các yếu tố: (1) là bản ngã của doanh nghiệp; (2) có tính đồng nhất với các thành viên; (3) có tính bảo thủ, bất biến và khả năng di truyền (Trương Gia Bình, 2017). Đây là yếu tố giúp hình thành và duy trì sức sống của một công ty cũng như phân biệt, khẳng định giá trị một thương hiệu trên thị trường.

        Tương tự như ẩn dụ về “gen” trong lý thuyết kinh doanh, quan điểm “gen văn hóa” của nhà nghiên cứu Nguyễn Hồng Phong cũng mang nội hàm tương tự được thể hiện qua ba tiêu chí sau:

(1)  Là những nét đặc trưng giúp phân biệt giữa dân tộc này và dân tộc khác

(2)  Được ghi nhận và có tính đồng nhất với các thành viên trong cộng đồng dân tộc

(3)  Được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác

        Vậy tại sao bộ gen của một dân tộc lại được phản ánh qua văn hóa mà không phải qua các thành tố khác như kinh tế, tự nhiên,…? Quá trình tiến bộ của loài người đã chứng kiến rất nhiều định nghĩa và cách hiểu khác nhau về khái niệm “văn hóa” (có tới 164 khái niệm[2]) được sử dụng để định nghĩa cho nhiều khía cạnh trong đời sống như cấu trúc xã hội, ẩm thực, tôn giáo tín ngưỡng,…Song điểm chung của tất cả các định nghĩa trên là đã chỉ ra rằng “văn hóa” là sản phẩm của duy nhất con người mà không phải của động vật. Nếu coi văn hóa là yếu tố cấu thành tộc người thì “văn hóa tộc người là tổng thể các yếu tố về ngôn ngữ đặc trưng văn hóa (vật chất, tinh thần, xã hội ), các sắc thái tâm lý và tình cảm, phong tục và lễ nghị…làm nên bản sắc và phân biệt tộc người này và tộc người khác- là cơ sở, là điều kiện cơ bản và cốt lõi làm nảy sinh, định hình và phát triển ý thức tộc người hay ý thức tự giác tộc người”[3].

        Như vậy, trong cùng một điều kiện tự nhiên, cùng một niên đại lịch sử nhưng cách mà các tộc người sáng tạo và thích nghi với cuộc sống là khác nhau hay nói cách khác văn hóa là thứ duy nhất để phân biệt cộng đồng tộc người và để duy trì sức sống mạnh mẽ của tộc người mình, văn hóa đã được lưu truyền và hình thành trong nội tại mỗi cá nhân một cách bền bỉ. Trên thực tế, văn hóa tộc người không đồng nhất theo từng nhóm địa phương song người ta vẫn có thể nhận dạng bởi “bộ gen văn hóa” – là thứ ổn định và ít biến đổi nhất được gìn giữ và bảo tồn trong nhóm địa phương đó. Từ những phân tích trên, có thể thấy văn hóa là nguồn lực quan trọng nhất quyết định vận mệnh một dân tộc, là thứ tạo nên diện mạo và sự tồn tại của một dân tộc qua mọi thay đổi của thời gian.

2. Các yếu tố hình thành “Bộ gen văn hóa” của cộng đồng dân tộc Hmông

Bàn về các tiêu chí xác định thành phần dân tộc, các nhà Dân tộc học và Nhân học Xô Viết từng đưa hàng loạt các tiêu chí được coi là đặc trưng như lãnh thổ, ngôn ngữ, văn hóa, tâm lý, nhân chủng, ý thức tự giác tộc người và thậm chí là cả yếu tố nội tộc hôn. Cho tới năm 1973, tại Hội thảo về tiêu chí xác định dân tộc và thành phần các dân tộc ở Việt Nam đã thống nhất sử dụng 3 tiêu chí, có chung: (1) ngôn ngữ; (2) văn hóa; (3) ý thức tự giác tộc người để xác định các tôc người tại nước ta. Không phủ nhận tầm quan trọng của bất cứ tiêu chí nào song trong giới hạn của bài viết, chúng tôi chỉ xin trình bày về văn hóa bởi “Văn hóa còn thì tộc người còn”[4].

Karl Marx đã từng nhận định: “Hiện tại là kho chứa của quá khứ”. Như đã đề cập ở phần trên, văn hóa là một quá trình tiếp nối từ quá khứ đến hiện tại. Tuy nhiên, dù là quá khứ hay hiện tại, dù có nhiều cách gọi tên hoặc nhận định khác nhau, văn hóa vẫn được chia thành ba dạng thức cơ bản: văn hóa vật chất, văn hóa tinh thần và văn hóa xã hội. Trong đó, mỗi dạng thức lại hàm chứa nhiều khía cạnh và đa dạng về nội dung. Dễ dàng nhận thấy, cộng đồng người Hmông là một trong số những tộc người tại Việt Nam nhận được sự quan tâm nghiên cứu của không ít các nhà khoa học, có thể kể tới một số tác giả tiêu biểu như Cừ Hòa Vần – Hoàng Nam (1994), Trần Hữu Sơn (1996), Vương Xuân Tình (2004),…Do đó, sẽ là không đủ để bài viết có thể đề cập tới tất cả các đặc điểm cấu thành văn hóa của người Hmông tại nước ta. Vì vậy, người viết chỉ đi sâu vào phân tích một hoặc một vài đặc trưng nổi bật trong mỗi dạng thức văn hóa dựa trên những tổng hợp tài liệu đi trước và trải nghiệm thực tế.

        Dân tộc Hmông với hơn 1 triệu người là một trong những dân tộc ít người tại miền núi phía Bắc Việt Nam. Cư dân tập trung chủ yếu ở các đỉnh núi cao là núi đá vôi, đá tai mèo sắc nhọn tại Hà Giang, Lào Cai, Lai Châu, Sơn La,…khá cách biệt với phần còn lại của mỗi địa phương. Di cư vào Việt Nam từ cuối thế kỷ XVII – đầu thế kỷ XIX từ Trung Quốc, người Hmông đã có hơn 300 năm sinh sống và tạo dựng nền văn hóa của mình trên đất Việt đồng thời vẫn duy trì sự giao lưu với một bộ phận lớn đồng tộc tại Trung Hoa. Với tính cách tự chủ, kiên cường được nhào nặn trong điều kiện tự nhiên khắc nghiệt, người Hmông tại Việt Nam đã xây dựng được một “bộ gen văn hóa” rất đặc thù, khó nhầm lẫn.

Về văn hóa vật chất

        Văn hóa vật chất được hình thành dựa trên một trong hai nhu cầu cơ bản của con người (vật chất và tinh thần), dẫn tới hai hoạt động cơ bản là sản xuất vật chất và sản xuất tinh thần (Trần Ngọc Thêm, 2014). Theo đó văn hóa vật chất bao gồm tất cả những sản phẩm thuộc hoạt động sản xuất vật chất: ăn, mặc, ở, đi lại,…

        Để thích nghi với môi trường sống khắc nghiệt trên các dẻo núi cao, đồng bào Hmông thường làm nhà trình tường bằng đất để giữ ấm vào mùa đông và mát vào mùa hè bao gồm không gian dành cho ông bà tổ tiên, buồng ngủ, khu vực nấu nướng, chăn thả gia súc,…Xung quanh nhà đồng bào dựng hàng rào đá để che chắn và trang trí cho ngôi nhà. Đây có thể coi là một điểm nhấn đáng lưu ý, đặc trưng cho nhà của người Hmông tại nước ta. Từ những tri thức thu nhận được, chúng tôi xin đề cập tới hai nét văn hóa vật chất tạo nên “bộ gen văn hóa” của dân tộc này: văn hóa gắn liền với cây ngô và cây lanh phản ánh hai nhu cầu cơ bản của con người: ăn và mặc.

        Đồng bào Hmông sống phụ thuộc chủ yếu vào cây ngô. Không phải lúa gạo, ngô mới là nguồn cung cấp tinh bột chính, có mặt trong hầu hết bữa cơm hằng ngày của người dân quanh năm suốt tháng. Địa hình núi cao chiếm phần lớn là đá tai mèo khiến diện tích đất để trồng lúa càng trở nên ít ỏi, đồng thời, khí hậu khắc nghiệt, lượng mưa ít nên việc trồng lúa để đảm bảo nguồn thức ăn hằng ngày là không thể. Từ nguồn lương thực này, đồng bào đã chế biến thành nhiều món ăn độc đáo, tiêu biểu với mèn mén, bánh ngô và rượu ngô. Mèn mén được chế biến từ hạt ngô tẻ địa phương, xay nhuyễn trong cối đá rồi đồ trong những chõ lớn. Sau mỗi mùa thu hoạch, đồng bào phơi ngô tới khô trên hiên nhà hoặc gác bếp, gắn liền với hình ảnh người phụ nữ Hmông trong gia đình. Mèn mén được ăn với canh rau cải, canh xương, nước thắng cố,…trở thành thức ăn đặc trưng của đồng bào. Bánh ngô được làm từ ngô nếp xay nghiền từ hạt ngô non còn sữa. Người ta nặn thành từng bánh nhỏ, lấy bẹ ngô gói bên ngoài để tăng mùi thơm của ngô non. Rượu ngô lại gắn liền với hình ảnh người đàn ông Hmông cùng những phiên chợ vùng cao ngồi cà kê câu chuyện, tiếng chạm bát rượu ngô chúc nhau sự tốt lành. Rượu được làm từ ngô tẻ, kết hợp với men từ hạt hồng mi cùng kỹ thuật trưng cất được đúc kết qua nhiều đời. Mèn mén, bánh ngô hay rượu ngô không chỉ xuất hiện trong bữa cơm hằng ngày mà còn trong cả những dịp lễ tết, dâng cúng ông bà tổ tiên, tiếp khách quý tới chơi – là thứ thức ăn “cộng cảm” hình thành nên một thứ văn hóa rất riêng biệt.

        Đặc biệt quan trọng như cây ngô trong văn hóa ẩm thực, cây lanh lại đóng vai trò thiết yếu trong văn hóa mặc và được xây dựng như một hình ảnh mang tính biểu tượng trong phong tục dân gian. Phụ nữ Hmông từ nhỏ nhất thiết phải biết trồng lanh dệt vải tạo ra những màu sắc, hoa văn đặc trưng không thể lẫn lộn. Cây lanh được lấy từ rừng, phơi khô rồi tước ra thành từng sợi nhỏ, giã cho mềm rồi nối lại. Vải lanh sau khi được dệt xong sẽ nhuộm màu chàm truyền thống rồi thêu lên những đường nét tỉ mỉ. Người Hmông duy trì nghề dệt vải lanh bởi đó là loài cây mang “tín hiệu tộc người” [5], là lời nhắc nhớ về nguồn cội và là cách để giáo dục người con gái trong gia đình. Bên cạnh đó, sợi lanh còn trở thành vật dẫn đường kết nối giữa trần thế và thế giới siêu nhiên, là vật bảo vệ cho linh hồn, cuộc sống của đồng bào, là nguồn tư liệu cho văn hóa dân gian Hmông đầy đặc sắc.

Về văn hóa tinh thần

Văn hóa tinh thần là sản phẩm từ hoạt động cơ bản thứ hai của con con người – sản xuất tinh thần. Và do đó, văn hóa tinh thần liên quan tới thế giới bên trong, thế giới tâm hồn của con người bao gồm tôn giáo, tín ngưỡng, ngôn ngữ, phong tục, thơ ca dân gian,.. Hmông được biết đến là một dân tộc giàu các giá trị văn hóa truyền thống song trong bài viết này, chúng tôi xin chỉ đề cập tới ngôn ngữ và tục “kéo vợ” – điều mà tôi cho rằng là hai điểm mấu chốt trong văn hóa tinh thần làm nên “bộ gen” của người Hmông.

Ngôn ngữ – bao gồm tiếng nói và chữ viết là công cụ giao tiếp cơ bản của con người, là phương tiện phản ánh tư duy tộc người, là một trong những tiêu chí quan trọng nhất để nhận dạng và phân biệt tộc người này với tộc người khác. Cùng với hai dân tộc là Dao và Pà Thẻn, dân tộc Hmông thuộc nhóm ngôn ngữ Hmông – Dao. Tuy nhiên, người Dao sử dụng chữ Hán theo cách riêng gọi là chữ Nôm Dao để ghi chép và giao tiếp. Về cơ bản, ngôn ngữ giao tiếp của người Hmông ở nước ta và trên khắp thế giới nhìn chung đã thống nhất bằng tiếng Hmông Đơ (Hmông Trắng) song việc thống nhất giữa chữ Hmông Việt Nam hay chữ Hmông Latin còn gặp nhiều tranh cãi. Bằng ngôn ngữ, đồng bào đã sáng tạo ra một kho tàng thơ ca, tục ngữ, truyện kể đặc sắc thể hiện ước mơ và khát vọng từ ngàn đời này. Trong giao tiếp gia đình, làng bản và thậm chí trẻ em khi tới trường, họ vẫn ưu chuộng và tiếng Hmông là chủ yếu. Tuy đây là một khó khăn lớn cho ngành giáo dục nhưng đó là dẫn chứng cho sức sống mạnh mẽ của ngôn ngữ trong văn hóa tộc người.

Giống như nhiều dân tộc khác ở nước ta, người Hmông cũng thực hành tín ngưỡng “thờ cúng tổ tiên” song bàn thờ được thay bằng 3 ống tre để cắm hương tượng trưng cho 3 vị thần coi sóc gia đình. Họ cũng có những ngày lễ Tết trong năm như Rằm tháng riêng, Tết mùng 3 tháng 3, rằm tháng 7,…để nghỉ ngơi, ăn uống, cầu mong mùa màng bội thu. Đặc sắc nhất có thể kể tới là quan niệm “vạn vật hữu linh”. Trên thực tế, đây là quan niệm khá phổ biến ở một số dân tộc phía Bắc Việt Nam như Nùng, Dao,…và cả người Kinh. Song người Hmông cho rằng con người có ba hồn: ở đỉnh đầu, ngực và rốn. Nếu một hồn đi chơi thì con người sẽ bị ốm và phải đi gọi hồn về. Như đã đề cập, một nét riêng trong văn hóa người Hmông là tục “kéo vợ”. Theo truyền thống, việc kéo vợ chỉ diễn ra khi đôi nam nữ yêu nhau và đã có thỏa thuận trước. Bản chất tục “kéo vợ” là hình thức đề cao giá trị người con gái, khắng định tình yêu mãnh liệt của đôi trai gái, khát vọng có dâu rể hai bên gia đình, tránh tình trạng thách cưới và ép cưới trước hôn nhân – là một tục lệ đẹp và văn minh được lưu truyền từ đời này sang đời khác.

Về văn hóa xã hội

Dạng thức cuối cùng trong văn hóa là văn hóa xã hội bao gồm các đơn vị và các mối quan hệ xã hội như gia đình và quan hệ gia đình, dòng họ và mối quan hệ dòng họ cùng các thiết chế làng bản được quy định, thống nhất trong cộng đồng tộc người. Giống như nhiều dân tộc khác, mọi hoạt động sinh hoạt vật chất và tinh thần của người Hmông đều xoay quanh ba mối quan hệ – dòng họ, gia đình, làng bản. Trong đó, dòng họ đóng vai trò đặc biệt quan trọng – là yếu tố nổi bật nhất tạo nên bản sắc riêng của đồng bào.

Dòng họ được xem như một đơn vị cố kết cộng đồng với sự liên kết chặt chẽ giữa các thành viên trên cùng quan hệ huyết thống dòng họ cha. Theo đó, người Hmông cho rằng mỗi dòng họ được sinh ra từ một ông tổ theo những cách lý giải, truyền thuyết khác nhau được truyền từ đời này sang đời khác. Có nhiều lí do để cho rằng dòng họ là yếu tố đặc sắc giúp duy trì hoạt động xã hội trong nội tại tộc người. Thứ nhất, dòng họ đề cao tầm quan trọng của anh em ruột thịt trong cuộc đời của mỗi người. Cụ thể, người trong cùng một họ có thể sống và chết trong nhà nhau, giúp đỡ và cưu mang nhau vượt qua mọi khó khăn của cuộc sống. Dù khác nhau địa vực cư trú song quan niệm sống ân nghĩa, thủy chung chính là sợi dây gắn bó người Hmông trên khắp vùng miền. Thứ hai, dòng họ quy định cách thực hành tập tục trong gia đình bởi quan niệm người cùng họ phải là người có cùng mà. Đơn cử, khi trong nhà có người mất, có dòng họ đặt dọc thi thể sát bàn thờ nhưng có dòng họ lại đặt thi thể nằm ngang. Thứ ba, dòng họ là nguồn hỗ trợ đắc lực trong phát triển kinh tế hộ gia đình và bảo vệ quyền sở hữu đất đai. Người Hmông bao đời nay vẫn được biết đến với kỹ thuật canh tác nương rẫy, làm ruộng bậc thang đạt trình độ cao. Tuy nhiên, hình thức này cũng đòi hỏi nhiều sức lực mà chỉ có sự liên kết dòng họ mới có thể đáp ứng được.

Có thể thấy, cho tới nay, kiểu cư trú theo dòng họ trên cùng một làng vẫn còn rất phố biến trong dân tộc Hmông. Đặc biệt hơn cả, người Hmông còn duy trì mối quan hệ dòng họ xuyên biên giới, là cơ hội giúp đồng bào có thể giải quyết những vấn đề liên quan tới việc làm, phát triển kinh tế. Người Hmông có câu: “Sống là người của dòng họ, chết là ma của dòng họ. Sống phải bảo vệ cho nhau, chết phải chôn cất cho nhau”. Những tư tưởng này được thực hiện một cách nghiêm ngặt bằng hệ thống luật tục được quy định một cách chặt chẽ. Người dòng họ cư trú đến đâu thì luật tục của dòng họ đươc thực hiện tới đó. Nói tóm lại, từ nhiều góc độ, dòng họ đã hình thành nên nhân cách của các cá nhân trong tộc người mà ở đó họ có thể tìm thấy sự đồng cảm, hòa đồng.

3. Các yếu tố tác động tới “Bộ gen văn hóa” và việc bảo tồn trong bối cảnh hiện nay:

        Biến đổi văn hóa (Culture change) đặc biệt trong xu thế công nghiệp hóa, hiện đại hóa đã trở thành bài toán đối với nhiều quốc gia và đối với chính tộc người. Như đã đề cập ở phần trên, tộc người chỉ còn khi còn giữ được văn hóa. Khi văn hóa bị biến dạng cũng giống như con người trở nên lệch chuẩn khi bị biến đổi gen. Trong quá trình phát triển, người Hmông tại Việt Nam cũng là một trong các dân tộc ít nhiều chịu ảnh hưởng của hiện đại hóa đất nước dẫn tới những thay đổi đáng kể trong văn hóa dân gian truyền thống. Bài viết này xin được lấy ví dụ về hai thay đổi đáng chú ý nhất. Một là, phong trào người Hmông di cư vào Tây Nguyên và các tỉnh thành Trung và Nam Bộ. Thứ hai, sự nổi dậy từ việc người Hmông theo đạo Tin lành. Hai dẫn chứng này nhằm chứng minh cho hai yếu tố ngoại vi có tác động lớn nhất với người Hmông nói riêng và các tộc người khác nói riêng . Đó là sức ép kinh tế và sự du nhập của các nền văn hóa khác.

        Di dân tự do của người Hmông diễn ra trong những năm đầu thập kỷ 90 tới nay. Từ  các tỉnh phía Bắc như Lào Cai, Sơn La, Hà Giang, Yên Bái,…một số lượng lớn người Hmông di cư tới các tỉnh miền Trung và Nam Bộ như Thanh Hóa, Nghệ An, Đắk Lắk, Đắc Nông,…xây dựng các làng bản, định cư để phát triển kinh tế. Có thể thấy, tập quán du canh du cư sống dựa vào tài nguyên rừng và núi cao vẫn ăn sâu vào trong tiềm thức của đồng bào. Điều đó được thể hiện rõ rệt khi người Hmông có xu hướng lựa chọn các xã vùng cao biên giới thay vì các thành phố lớn để phù hợp với lối sống trước đây, được tự do đốt nương làm rẫy, khai thác lâm thổ sản, trồng cây thuốc phiện,…Hiện tượng này có thể được lí giải bằng nhiều lí do mà trong đó sức ép kinh tế là yếu tố tác động rõ rệt nhất. Mặc dù những triền núi cao Tây Bắc được coi là quê hương ngàn đời của đồng bào, là mảnh đất thích hợp cho sự định cư song sự khắc nghiệt của thời tiết và thổ nhưỡng đã hạn chế nguồn tư liệu để phát triển kinh tế hộ gia đình. Lương thực thu được từ nương rẫy, chăn nuôi gia súc gia cầm chỉ đủ đáp ứng cho nhu cầu hằng ngày. Người dân phải tìm những nguồn sinh kế khác như lao động xuyên biên giới, buôn bán ma túy,…Tại nơi ở mới, đồng bào Hmông vẫn duy trì những lề thói cũ điển hình như việc gìn giữ ngôn ngữ, nhà cửa, trang phục, phiên chợ hay giáo dục con cái…bảo tồn những giá trị cốt lõi của dân tộc. Đồng thời, môi trường mới cũng làm nảy sinh những biến đổi. Đơn cử, bà con bắt đầu làm quen với những giống cây đặc trưng cho vùng đất đỏ bazan như tiêu, cà phê,…để tăng nguồn thu nhập.

        Đạo Tin lành được coi là yếu tố tôn giáo mới du nhập vào cuộc sống của đồng bào các dân tộc thiểu số trong đó có người Hmông. Tôn giáo, với những đặc tính của mình, là thứ lực lượng vô hình dễ dàng lan truyền, gây kích động hoặc làm thay đổi hoàn toàn tư tưởng của con người dẫn tới những thay đổi trong hành vi. Do đó, bên cạnh kinh tế, tôn giáo chính là tác nhân làm sự biến đổi văn hóa trở nên nhanh chóng và dễ dàng. Phần lớn người Hmông vẫn lưu giữ và bảo tồn nền văn hóa truyền thống của mình song một phần không nhỏ đồng bảo cải đạo sang Tin Lành. Cụ thể, họ chỉ thờ phụng duy nhất một Đức Chúa Trời, lấy Kinh thánh làm kim chỉ nam, tức là từ bỏ tín ngưỡng thờ đa thần thành độc thần, từ bỏ sự tương tác với ông bà tổ tiên hay các thực hành văn hóa truyền thống – một sự thay đổi mạnh mẽ trong nội tại môi cá nhân. Trường hợp này đã chứng minh rằng: khi văn hóa biến đổi bộ gen xã hội của một tộc người cũng biến đổi theo.

        Nam giới người Hmông rất kiên cường, thượng võ nhưng vô cùng lãng mạn, phụ nữ Hmông lại cam chịu nhưng có mỹ cảm rất tinh nhạy. Văn hóa truyền thống Hmông là sản phẩm của lịch sử và mang tính lịch sử. Có những yếu tố văn hóa truyền thống phù hợp với xã hội hiện nay nhưng cũng có những yếu tố là lạc hậu với yêu cầu cuộc sống. Sự biến đổi văn hóa có thể xuất phát từ chính nhu cầu của tộc người và cũng có thể là sự lợi dụng những lỗ hổng trong niềm tin để phục vụ cho những lợi ích phi văn hóa.

Kết luận

        Có thể nhận định và gói gọn văn hóa Hmông là “văn hóa vùng cao” – văn hóa thích nghi với sự khó khăn trong giao lưu, đi lại, điều kiện thời tiết,…nhưng lại hình thành nên những nét rất nổi trội và đặc sắc. Phương thức tồn tại của văn hóa là luôn biến đổi. Chủ thể văn hóa – người nắm giữ “bộ gen văn hóa dân tộc” là người định đoạt sức sống của văn hóa và sự tồn tại của tộc người. Mỗi tộc người, trong đó có dân tộc Hmông, đều có cho mình những thế mạnh nhất định trên cả ba dạng thức: vật chất, tinh thần, xã hội và ở mỗi dạng thức, văn hóa lại nổi bật lên với những phong tục, tập quán nhằm phân biệt dân tộc mình với các dân tộc khác. Trong bối cảnh công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước, những giá trị cốt lõi trong văn hóa dân tộc ít nhiều bị thay đổi sao cho phù hợp với thực tiễn phát triển. Nhưng sự biến đổi sẽ là tích cực nếu nó xuất phát từ nhu cầu và lợi ích của các chủ thể văn hóa.

Tài liệu tham khảo:

  1.   Lâm Bá Nam (2014), Đa dạng và thống nhất, thống nhất trong đa dạng-sức mạnh nội sinh của văn hóa cộng đồng các dân tộc Việt Nam, Báo cáo chuyên đề đề tài cấp Nhà nước do GS. Phùng Hữu Phú làm chủ nhiệm Hội đồng lý luận TW, Kỷ yếu Hội thảo “Văn hóa sức mạnh nội sinh phục vụ phát triển bền vững”, Đà Nẵng, 2014.
  2.   Trương Gia Bình (2017), Doanh nghiệp, gen và môi trường văn hóa Việt Nam, đăng trên https://fptway.wordpress.com/2017/07/13/doanh-nghiep-gen-va-moi-truong-van-hoa-viet-nam-pgs-pts-truong-gia-binh/ , truy cập ngày 20/12/2017
  3.      Trần Ngọc Thêm (2014), Khái luận về văn hóa, in trong “Những vấn đề Khoa học Xã hội & Nhân văn” – Chuyên đề Văn hoá học, Nxb Đại học Quốc gia, 2013
  4.      Trần Hữu Sơn (2008), Cây lanh – biểu tượng trong văn hóa dân gian người Hmông, đăng trên www.vanhoalaocai.vn truy cập ngày 21/12/2017
  5.   Phan Hữu Dật (2015), Một số vấn đề về dân tộc học Việt Nam, Hà Nội: NXB Đại học Quốc gia
  6.   Phan Hữu Dật (2016), Mấy tiếp cận về Văn hóa Việt Nam, Hà Nội: NXB Thế giới
  7.   Phạm Thị Phước An (2011), Đồng bào Mông ở Tây Nguyên, đăng trên Trang tin điện tử Ủy ban dân tộc, truy cập ngày 21/12/2017
  8.   Viện Dân tộc học (2014), Các dân tộc ít người ở Việt Nam (các tỉnh phía Bắc), Hà Nội: NXB Khoa học Xã hội
  9.   Vương Xuân Tình (2016), Về tộc người và cộng đồng quốc gia – dân tộc ở Việt Nam hiện nay, Tạp chí Dân tộc học số 4 – 2016

 

[1] Nguyễn Hồng Phong (1995), Văn hóa- phát triển và bản sắc, Trung tâm khoa học xã hội và nhân văn quốc gia  

[2]  Kroeber và KluchKoln (1952), Culture – A critical review of concept and definitions, Havard University, Cambridge

[3] Lâm Bá Nam (2014), Đa dạng và thống nhất, thống nhất trong đa dạng-sức mạnh nội sinh của văn hóa cộng đồng các dân tộc Việt Nam, Báo cáo chuyên đề đề tài cấp Nhà nước do GS. Phùng Hữu Phú làm chủ nhiệm  Hội đồng lý luận TW, Kỷ yếu Hội thảo “Văn hóa sức mạnh nội sinh phục vụ phát triển bền vững”, Đà Nẵng, 2014

[4] Trích lời GS. Đặng Nghiêm Vạn

[5] Trần Hữu Sơn (2008), Cây lanh – biểu tượng trong văn hóa dân gian người Hmông, truy cập ngày 21/12/2017

Trang Bùi