PIERRE GOUROU – Người nông dân châu thổ Bắc Kỳ

62

Đối với các nhà Việt Nam học, cuốn sách “Người nông dân châu thổ Bắc Kỳ” của tác giả Pierre Gourou là một cuốn sách không thể thiếu trong tủ sách của họ, đó là cuốn sách gối đầu giường của nhiều nhà nghiên cứu văn hóa Việt Nam. Có thể nói đây là một trong những công trình đầu tiên nghiên cứu tổng thể và toàn diện về không gian châu thổ sông Hồng, nơi mà chủ yếu dân cư người Kinh-Việt sinh sống. Pierre Gourou là một nhà sử học, nhà địa lý học và tiến sĩ văn chương, đọc tác phẩm của ông người ta không bao giờ thấy nhàm chán. Người đọc bị lôi cuốn từ những dòng văn đầu tiên bình dị và lãng mạn như đang trong vai một nhà du ký. Những mô tả tỉ mỉ, chân thực giúp ta sống lại trong một không gian đồng bằng sông Hồng, nơi các ngôi làng quê tản mạn co cụm bỗng được mở rộng ra bởi những cánh đồng lúa bao quanh lấy nó. Đó là do đặc điểm địa hình tự nhiên cộng với bàn tay tạo tác của con người nơi này.

Con người đã tạo ra khung cảnh cho vùng đất này nổi bật nhất là các đê sông. Đê sông giúp ngăn chặn thủy triều tràn nước mặn vào ruộng ở những vùng giáp biển, đặc biệt là ngăn chặn lũ vào những mùa mưa từ trên vùng cao đổ về. Ông cũng là một trong những người đầu tiên lý giải rằng công việc đắp đê là việc làm đầu tiên giúp những con người nơi đây cố kết lại với nhau thành những cộng đồng chặt chẽ và bền vững.

Một phần vô cùng quan trọng mà các nhà nghiên cứu hiện nay đang cố gắng chứng minh đó là lịch sử di dân đến châu thổ Bắc Kỳ. Pierre Gourou đã khẳng định ngay từ đầu phần hai “về tình trạng hiện nay không có khả năng viết về lịch sử di dân đến châu thổ Bắc kỳ” một nhận định “không đem lại kết quả” cho các cố gắng từ trước đến nay là hoàn toàn chính xác. Bằng việc viện dẫn các công trình lịch sử Việt Nam và Trung Quốc, các tư liệu điền dã dân tộc học, hệ thống địa danh, tên các dòng họ, tôn giáo… đều là một dấu hỏi lớn cho việc tìm ra nguồn gốc người Việt. Ông khẳng định thêm lần nữa “các nguồn tài liệu lịch sử, dù thuộc loại nào và hình thể hiện nay của đất nước vẫn không cho phép phác họa lại một cách thỏa đáng lịch sử di dân trên châu thổ”“chắc chắn là sự di dân được tiến hành từ Bắc xuống Nam bắt đầu từ những vùng đất cao của phía Tây châu thổ và trung tâm châu thổ, nhưng các giai đoạn của cuộc chinh phục này vẫn không được biết…”, đó là điều mà ngày nay nhiều nhà nghiên cứu đang cố gắng chứng minh nhưng vẫn chưa đưa ra một nhận định hợp lý.

Điều đặc biệt ấn tượng Pierre Gourou đã mô tả một cách chi tiết các sinh hoạt truyền thống của người Việt vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng từ làng mạc, quá trình tụ cư và sự hình thành cấu trúc làng của vùng này, đây là một đặc điểm rất đặc biệt mà ông đã nhận thấy trong cơ cấu tổ chức và quản lý hành chính của chính quyền. Dường như nhà nước không thể tác động một cách trực tiếp lên các cá nhân, mà các cá nhân chịu sự chi phối của các tiểu cộng đồng của họ trong làng. Do đó những quan hệ cá nhân với cá nhân, cá nhân với cộng đồng (làng, xóm, họ, giáp…) đã tạo nên một nét đặc sắc trong tư duy của người Việt “ở châu thổ Bắc kỳ, con người chỉ tồn tại như là thành viên của làng, và người ta không thể quan niệm sống riêng rẽ với gia đình của mình. Đấy cũng là quan điểm chính thống của chính quyền Việt Nam, họ không biết đến cá nhân, đến gia đình và không thâm nhập vào bên trong làng; mọi nghĩa vụ đè nặng lên đất nước như thuế khóa, lao dịch, quân dịch, chính phủ đều bổ vào các làng và không bận tâm đến việc nó được phân bổ như thế nào”. Việc chính quyền không thể can thiệp sâu vào các làng như vậy đã tạo ra những hệ quả như “phép vua thua lệ làng” thời phòng kiến và nhiều nhà nghiên cứu đã nhận định đó là nguyên nhân người Việt không bị đồng hóa sau hàng ngàn năm Bắc thuộc.

Pierre Gourou cũng đã trình bày trong cuốn sách của mình rất chi tiết về văn minh vật chất của người Việt. Một ví dụ điển hình là cách xây dựng nhà ở, các loại nhà của từng tầng lớp khác nhau trong xã hội. Ông so sánh giữa nhà ở của những vùng khác nhau từ vùng biển, vùng trung du và vùng núi, nhà người Kinh và người Mường. Ông cho rằng mỗi ngôi nhà được xây lên ứng với vị trí xã hội và độ giàu có của người chủ. Bên cạnh việc xây dựng nhà để ở, nhà cũng là nơi để thờ cúng và thực hành các nghi lễ tôn giáo và nghi lễ vòng đời của con người. “Việc dựng nhà thường kèm theo nhiều nghi thức phức tạp khiến nó trở thành một nghi lễ tôn giáo hơn là một quy tắc xây dựng”. Mỗi công đoạn của một ngôi nhà đều ứng với một nghi lễ nào đó để mang lại những điều tốt lành cho gia chủ. Việc hoàn thành một ngôi nhà như việc đánh dấu một “nghi lễ vòng đời” của một con người. Ông đã liên hệ vai trò của văn hóa vật chất với đời sống tín ngưỡng tôn giáo của con người. Một khảo cứu hết sức thú vị hiếm có trong các nghiên cứu hiện nay.

Nông nghiệp là kinh tế chủ đạo của vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng do điều kiện tự nhiên kiến tạo. Nông nghiệp đứng hạng thứ hai trong các nghành nghề được coi trọng “sĩ, nông, công, thương”. Một đặc điểm quan trọng của nông nghiệp nơi đây là rất manh mún, sự manh mún ấy không đồng đều mà thay đổi theo vùng, càng lên cao khoảng cách chia nhỏ càng được nới rộng ra. Một phần rất lớn tùy thuộc vào mật độ dân số của mỗi vùng và diện tích canh tác của từng vùng, nó còn liên quan mật thiết tới quyền sở hữu đất đai của người dân, mức độ giàu có của các tầng lớp khác nhau trong xã hội. Ông đã mô tả quy luật trồng cấy của người Việt, các công việc trồng lúa theo thời vụ, từng tháng, cách chăm sóc, thu hoạch và chuẩn bị cho những vụ mùa kế tiếp nhau thế nào.

Bên cạnh việc trồng lúa là chủ yếu, người Việt còn nhiều hình thức mưu sinh khác ngoài tính thời vụ của nông nghiệp. Đó là các nghành nghề thủ công, đánh cá, làm muối, chăn nuôi, buôn bán… tất cả những ngành nghề này đều là bổ sung, phụ trợ cho nông nghiệp. Là một mặt còn lại của kinh tế làng xã nhỏ lẻ manh mún và phần lớn tự cung tự cấp, tự bao tiêu sản phẩm trong phạm vi địa lý hẹp. Cái mà Pierre Gourou gọi là công nghiệp ở Việt Nam thực chất là thủ công nghiệp truyền thống. Những ngành như làm mộc, dệt vải, thợ rèn, thợ nhuộm… tạo thành những làng nghề mang tính chất gia truyền thủ nhỏ tại một vùng không có sự ảnh hưởng lớn tới nền kinh tế nông thôn. Tuy nhiên, những sản phẩm thủ công đó mang lại sự thay đổi cơ cấu kinh tế tại nơi nó tồn tại, người ta có việc làm quanh năm và ít phụ thuộc vào nông nghiệp hơn những nơi khác. Ông cũng đánh giá rất cao tay nghề của các người thợ thủ công Việt Nam, ông cho rằng những sản phẩm họ làm ra hết sức độc đáo và tinh xảo.

Phần cuối cuốn sách là việc trao đổi, thông thương của người Việt thông qua chợ. Chợ được phân phối đều khắp từ làng này sang làng khác, từ vùng này sang vùng khác. Đôi khi chợ được lập ra chỉ phục vụ cho một cơ chế kinh tế do làng đó lập ra. Chợ là đầu mối của tất cả các sản phẩm có được từ nghề nông, phục vụ nghề nông, các nghề thủ công và mọi sinh hoạt đời sống thường thấy của người dân nông thôn. Như ông nhận xét “cũng như các khía cạnh khác của đời sống kinh tế cho thấy việc buôn bán của người nông dân cam chịu tìm kiếm gắt gao một món lãi tầm thường nhất trong một công việc ít sinh lợi”.

Cuốn sách “Người nông dân châu thổ bắc kỳ” là một cuốn sách mang đầy đủ các thông tin cần thiết mô tả bộ mặt Việt Nam đầu thế kỷ 20. Với cách viết rất văn học, ông miêu tả một cách chi tiết và sinh động đời sống của người nông dân trong các mối quan hệ đa chiều vì thế người đọc có thể sẽ bị cuốn hút ngay từ những trang đầu tiên. “thoạt nhìn phong cảnh châu thổ có vẻ đơn điệu, xám xịt, không có duyên. Nhưng dần dần, nét nên thơ và vẻ đẹp của nó lộ ra trước mắt những ai chịu khó đi tìm cảm xúc, lần theo các con đê và các con đường đất nhỏ trong các mùa khác nhau, và đi vào các xóm làng. Bên trong làng mạc đó có những cảnh sắc rất đáng yêu….”.

Pierre Gourou (2015), Người nông dân châu thổ bắc kỳ, NXB.Trẻ, Tp.HCM.

* Hiện sách có bán tại một số hiệu sách ở phố Đinh Lễ, Hà Nội.

Nhân Trần