
Trong lịch sử nghìn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam, hiếm có vị anh hùng nào để lại dấu ấn rực rỡ và chói lọi như Quang Trung – Nguyễn Huệ. Xuất thân từ thân phận áo vải nơi đất Tây Sơn, ông đã vươn lên thành một thiên tài quân sự kiệt xuất, một vị hoàng đế bách chiến bách thắng chưa từng nếm mùi thất bại trên chiến trường. Tên tuổi ông gắn liền với chiến công đại phá 29 vạn quân Thanh trong mùa xuân Kỷ Dậu 1789 – một trong những võ công hiển hách bậc nhất của lịch sử quân sự nước nhà.
Nguyễn Huệ sinh năm 1753 tại ấp Tây Sơn (nay thuộc tỉnh Bình Định), trong một gia đình nông dân. Ông là em trong ba anh em Tây Sơn: Nguyễn Nhạc, Nguyễn Lữ và Nguyễn Huệ. Thuở thiếu thời, ba anh em được thầy Trương Văn Hiến – một nhà nho có khí tiết – rèn cặp cả văn lẫn võ. Riêng Nguyễn Huệ sớm bộc lộ tư chất phi thường: thông minh, quả cảm, có sức khỏe hơn người và biệt tài cầm quân.
Năm 1771, giữa lúc xã hội Đàng Trong rối ren, quan lại nhũng nhiễu, dân chúng lầm than, ba anh em Tây Sơn dựng cờ khởi nghĩa, lấy khẩu hiệu “lấy của nhà giàu chia cho dân nghèo”. Phong trào nhanh chóng lan rộng, quy tụ đông đảo nông dân, được lòng người ủng hộ. Từ một cuộc khởi nghĩa nông dân, Tây Sơn dần trở thành lực lượng quân sự hùng mạnh, làm rung chuyển cả Đàng Trong lẫn Đàng Ngoài.
Tài năng cầm quân của Nguyễn Huệ ngày càng tỏa sáng. Ông nhiều lần đem quân ra Bắc, lần lượt đánh đổ tập đoàn chúa Nguyễn ở Đàng Trong rồi tiến ra lật nhào nền thống trị của chúa Trịnh ở Đàng Ngoài, với danh nghĩa “phù Lê diệt Trịnh”. Chỉ trong vài năm ngắn ngủi, người anh hùng áo vải đã làm được điều mà các thế lực phong kiến tranh giành suốt hai thế kỷ không làm nổi: đặt nền móng cho việc thống nhất giang sơn về một mối.

Năm 1784, chúa Nguyễn Ánh trong cơn cùng quẫn đã cầu viện vua Xiêm (Thái Lan ngày nay). Khoảng 5 vạn quân Xiêm cùng 300 chiến thuyền kéo sang xâm lược, chiếm đóng vùng Gia Định, gây bao tội ác với nhân dân Nam Bộ. Trước họa ngoại xâm, Nguyễn Huệ thân chinh đem quân vào Nam.
Đêm 19 rạng 20 tháng 1 năm 1785, tại khúc sông Tiền hiểm yếu giữa Rạch Gầm và Xoài Mút (thuộc Tiền Giang ngày nay), Nguyễn Huệ bố trí một trận địa mai phục thủy chiến tuyệt diệu. Khi đoàn thuyền giặc lọt vào ổ phục kích, quân Tây Sơn từ hai bên bờ và các cù lao đồng loạt nổ súng, lao thuyền lửa xông tới. Chỉ trong một đêm, gần 5 vạn quân Xiêm bị tiêu diệt, đại bại tháo chạy. Sử cũ chép rằng từ đó quân Xiêm “sợ Tây Sơn như sợ cọp”. Rạch Gầm – Xoài Mút trở thành một trong những trận thủy chiến lớn nhất và oanh liệt nhất trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc.
Cuối năm 1788, vua Lê Chiêu Thống hèn nhát rước voi giày mả tổ, cầu viện nhà Thanh. Lợi dụng cơ hội, vua Càn Long sai Tổng đốc Lưỡng Quảng Tôn Sĩ Nghị thống lĩnh 29 vạn quân (cùng dân phu) ồ ạt tràn sang xâm lược, chiếm đóng kinh thành Thăng Long với dã tâm thôn tính nước ta.
Nghe tin cấp báo, ngày 22 tháng 12 năm 1788 (tức 25 tháng Một năm Mậu Thân), Nguyễn Huệ làm lễ tế cáo trời đất tại núi Bân (Phú Xuân – Huế), chính thức lên ngôi Hoàng đế, lấy niên hiệu Quang Trung, rồi lập tức thống lĩnh đại quân thần tốc tiến ra Bắc. Trên đường hành quân, trong lễ thệ sư ở Nghệ An, ông đọc lời hiểu dụ tướng sĩ – áng hùng văn được truyền tụng muôn đời, nay quen gọi là Hịch xuất quân:
Đánh cho để dài tóc
Đánh cho để đen răng
Đánh cho nó chích luân bất phản
Đánh cho nó phiến giáp bất hoàn
Đánh cho sử tri Nam quốc anh hùng chi hữu chủ.
— Lời hiểu dụ tướng sĩ của Hoàng đế Quang Trung, 1789
Chỉ vỏn vẹn năm câu, ba mươi lăm chữ, nhưng lời hịch ấy là một bản tuyên ngôn đanh thép về ý chí độc lập: đánh để giữ phong tục tóc dài răng đen của cha ông, đánh cho quân giặc một mảnh giáp không còn, một chiếc xe không thoát, đánh để muôn đời sử sách phải ghi nhớ nước Nam anh hùng là có chủ.
Tới Tam Điệp (Ninh Bình), Quang Trung cho quân ăn Tết trước, hẹn ngày mùng 7 tháng Giêng sẽ mở tiệc khao quân lớn ở Thăng Long. Đó là lời hứa của niềm tin sắt đá vào chiến thắng. Đêm 30 Tết, đại quân Tây Sơn lặng lẽ vượt sông Gián Khẩu, bắt đầu cuộc tiến công thần tốc khiến quân Thanh hoàn toàn bất ngờ.
Mờ sáng mùng 5 Tết Kỷ Dậu (30 tháng 1 năm 1789), trận quyết chiến nổ ra tại đồn Ngọc Hồi – cứ điểm kiên cố nhất của giặc ở phía nam Thăng Long. Quang Trung đích thân chỉ huy, cho quân dùng những tấm ván lớn bọc rơm ướt làm lá chắn, xông thẳng vào lửa đạn. Đồn Ngọc Hồi bị san phẳng, quân Thanh tan vỡ tháo chạy. Cùng lúc, đạo quân của đô đốc Long (Đặng Tiến Đông) bất ngờ đánh úp đồn Khương Thượng – Đống Đa, tiêu diệt tướng Sầm Nghi Đống – kẻ phải thắt cổ tự vẫn. Xác giặc chất thành những gò đống ngổn ngang nơi cửa ngõ phía tây kinh thành.
Tổng đốc Tôn Sĩ Nghị hốt hoảng “ngựa không kịp đóng yên, người không kịp mặc giáp”, cắt cầu phao tháo chạy về nước, khiến quân lính giẫm đạp lên nhau chết đuối đầy sông Nhị Hà. Trưa mùng 5 Tết, Quang Trung trong chiến bào đen sạm khói súng, dẫn đại quân tiến vào Thăng Long giữa tiếng reo hò của muôn dân – sớm hơn cả lời hẹn hai ngày. Toàn bộ chiến dịch đại phá 29 vạn quân Thanh chỉ gói gọn trong năm ngày, làm nên một trong những kỳ tích quân sự vĩ đại nhất lịch sử nhân loại.
Khí thế ngút trời của ngày đại thắng ấy đã được nhà thơ đương thời Ngô Ngọc Du – người tận mắt chứng kiến – ghi lại trong bài thơ vịnh chiến thắng Đống Đa:
Giặc đâu tàn bạo sang điên cuồng,
Quân vua một giận oai bốn phương.
Thần tốc ruổi dài xông thẳng tới,
Như trên trời xuống dám ai đương.
Một trận rồng lửa giặc tan tành,
Bỏ thành cướp đó trốn cho nhanh.
Ba quân đội ngũ chỉnh tề tiến,
Trăm họ chật đường vui tiếp nghênh.
— Ngô Ngọc Du, thơ vịnh chiến thắng Đống Đa
Cũng chính Ngô Ngọc Du, trong bài Loa Sơn điếu cổ, đã khắc tạc bằng chữ Hán hình ảnh mười hai gò xác giặc và võ công sáng ngời của người anh hùng:
Thành Nam thập nhị kình nghê quán,
Chiếu điện anh hùng đại võ công.
(Tạm dịch: Phía nam thành mười hai gò chôn xác giặc dữ / Soi tỏ võ công lớn lao của bậc anh hùng)
— Ngô Ngọc Du, “Loa Sơn điếu cổ”

Quang Trung không chỉ là một thiên tài quân sự, ông còn là một vị vua có tầm nhìn cải cách vượt thời đại. Lên ngôi giữa buổi loạn lạc, ông bắt tay xây dựng đất nước với hàng loạt chính sách tiến bộ: ban Chiếu khuyến nông để phục hồi sản xuất, kêu gọi dân lưu tán trở về quê cũ; ban Chiếu lập học mở mang giáo dục; đề cao chữ Nôm – chữ viết của dân tộc – đưa vào thi cử và công văn hành chính. Ông trọng dụng nhân tài, mời được bậc danh sĩ La Sơn phu tử Nguyễn Thiếp ra giúp việc nước; cải cách quân đội, mở rộng ngoại thương, chấn chỉnh tài chính.
Tiếc thay, giữa lúc những hoài bão lớn lao còn đang dang dở, ngày 16 tháng 9 năm 1792, Hoàng đế Quang Trung đột ngột băng hà khi mới ngoài bốn mươi tuổi. Sự ra đi quá sớm của ông là một mất mát không gì bù đắp được, khiến vương triều Tây Sơn nhanh chóng suy yếu. Nhưng tên tuổi và sự nghiệp của ông thì mãi mãi bất tử cùng non sông.
Hơn hai thế kỷ đã trôi qua, nhưng mỗi độ xuân về, khi tiếng trống hội Gò Đống Đa lại vang lên giữa lòng Hà Nội, lòng người Việt Nam vẫn rưng rưng tự hào nhớ về người anh hùng áo vải cờ đào. Quang Trung – Nguyễn Huệ là biểu tượng sáng ngời của trí tuệ, lòng quả cảm và ý chí quật cường của dân tộc; là minh chứng hùng hồn rằng từ thân phận bình dân, một con người có thể vươn lên làm nên những điều vĩ đại cho non sông.
Xin nghiêng mình tri ân và đời đời ghi nhớ công đức của Hoàng đế Quang Trung cùng nghĩa quân Tây Sơn – những người đã đem máu xương gìn giữ từng tấc đất, để “kinh đô vẫn thuộc núi sông ta”, để dòng giống Lạc Hồng được tóc dài răng đen, ngẩng cao đầu trong độc lập và tự do. Tinh thần Quang Trung – tinh thần dám đánh, dám thắng, dám canh tân – mãi là ngọn đuốc soi đường cho các thế hệ con cháu hôm nay và mai sau.